Liên kết website

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Thanh Hoá - Địa chỉ: 17 Hạc Thành - Ba đình - Thành phố Thanh Hoá. Số ĐT: (0373) 853.656-  3720.885   Fax: 037.3720885


DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHOÁ XVII, TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVIII, NHIỆM KỲ 2015 - 2020

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ thời cơ, vận hội mới, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phấn đấu đến năm 2020 Thanh Hóa trở thành tỉnh tiên tiến, đến năm 2025 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVII (2010-2015)

Năm năm qua, Đảng bộ, chính quyền, quân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII trong điều kiện chính trị - xã hội ổn định; đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân được tăng cường; tiềm lực kinh tế - xã hội của tỉnh ngày càng lớn; nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách cùng với sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương đã tạo điều kiện cho tỉnh có thêm nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân. Song, chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức do tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp. Trong nước, đầu nhiệm kỳ lạm phát tăng cao, kinh tế vĩ mô không ổn định, sau đó kinh tế phục hồi chậm, một số chương trình, dự án trọng điểm triển khai chậm, thiên tai, dịch bệnh bất thường, cùng với những tồn tại, hạn chế nội tại của kinh tế - xã hội trong tỉnh đã tác động bất lợi đến việc thực hiện nghị quyết đại hội.

Trước tình hình đó, Đảng bộ, chính quyền, quân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Cụ thể như sau:

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC

I. VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG-AN NINH

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt cao nhất từ trước đến nay, năng lực sản xuất và quy mô nền kinh tế ngày càng tăng.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2015 ước đạt 11,4% (1), mức cao nhất so với các giai đoạn trước. GDP năm 2015 theo giá so sánh năm 1994 ước đạt 34.891 tỷ đồng, gấp 1,7 lần năm 2010, xếp thứ 8 cả nước và đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ. GDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 1.530 USD, gấp 1,9 lần năm 2010, tăng nhanh hơn so với mức tăng trung bình của cả nước.

1.1- Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm ước đạt 4%, vượt mục tiêu đại hội. Gía trị sản xuất năm 2015 ước đạt 8.610 tỷ đồng (2), gấp 1,24 lần năm 2010. Trong ngành trồng trọt, nhiều loại giống cũ được thay thế bằng giống mới, mở rộng cơ giới hoá vào một số khâu sử dụng nhiều lao động (làm đất, gieo cấy, thu hoạch...), năng suất hầu hết các cây trồng chính đều tăng, sản lượng lương thực bình quân hằng năm đạt 1,69 triệu tấn, vượt mục tiêu đại hội. Công tác đổi điền, dồn thửa, xây dựng cánh đồng mẫu lớn được đẩy mạnh; các vùng trồng cây nguyên liệu phát triển theo quy hoạch; bước đầu hình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa. Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo mô hình trang trại, gia trại; quy mô và chất lượng đàn gia súc, gia cầm được nâng lên; tỷ trọng đàn bò lai, bò sữa, lợn hướng nạc tăng cao. Dự án chăn nuôi bò sữa tập trung theo hướng công nghiệp hiện đại do Vinamilk đầu tư được triển khai thực hiện. Lâm nghiệp phát triển khá toàn diện, tỷ lệ độ che phủ rừng năm 2015 ước đạt 52%, đạt mục tiêu đại hội. Sản xuất thủy sản phát triển cả đánh bắt, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần; sản lượng năm 2015 ước tăng 35,9% so với năm 2010.

1.2- Ngành công nghiệp - xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân hàng năm tăng 13,7%, trong đó, công nghiệp tăng 13,4%, xây dựng tăng 14,5%. Các sản phẩm công nghiệp truyền thống như: xi măng, thuốc lá, đường, vật liệu xây dựng,... duy trì tốc độ tăng khá. Các cơ sở công nghiệp lớn được đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động là: nhiệt điện Nghi Sơn I, thủy điện Bá Thước 2, gỗ Thành Nam, tinh bột sắn Ngọc Lặc và nhiều nhà máy may mặc, giày da... Một số dự án công nghiệp quy mô lớn, công nghệ hiện đại như: Lọc hóa dầu Nghi Sơn (dự án lớn nhất ở nước ta từ trước đến nay), xi-măng Công Thanh dây chuyền II, thủy điện Trung Sơn, thủy điện Bá Thước I..., được đẩy nhanh tiến độ để sớm đưa vào sản xuất. Tiểu-thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn được quan tâm phát triển, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân. Năm 2015, giá trị sản xuất ngành công nghiệp ước đạt 33.900 tỷ đồng (3), gấp 1,94 lần và ngành xây dựng ước đạt 21.150 tỷ đồng (4), gấp hơn 2,1 lần so với năm 2010.

1.3- Dịch vụ, thương mại, du lịch phát triển nhanh cả về quy mô và loại hình, chất lượng được nâng lên. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ước đạt 11,9%. Năm 2015 giá trị sản xuất ước đạt 20.506 tỷ đồng (5), gấp 1,8 lần năm 2010. Thương mại nội địa phát triển nhanh, đa dạng theo hướng văn minh, hiện đại; một số siêu thị, chợ đầu mối đã đi vào hoạt động; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ bình quân hằng năm tăng 23,9%. Du lịch có chuyển biến tích cực, hạ tầng các khu du lịch được cải tạo, nâng cấp; văn hóa du lịch có chuyển biến tốt hơn, lượng khách, doanh thu du lịch tăng cao. Dịch vụ vận tải phát triển đa dạng, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân. Cảng Hàng không Thọ Xuân đi vào hoạt động ngày càng phát huy hiệu quả. Dịch vụ bưu chính - viễn thông phát triển mạnh, mật độ điện thoại năm 2015 ước đạt 79,02 máy/100 dân, vượt mục tiêu đại hội. Dịch vụ ngân hàng tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại.

Xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao, giá trị hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu đạt 1,15 tỷ USD, vượt mục tiêu đại hội và gấp 2,9 lần năm 2010. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn luôn vượt dự toán, tốc độ tăng thu trung bình 5 năm đạt 11,8%/năm, tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách hằng năm đạt 8,3%; tổng thu ngân sách giai đoạn 2011-2015 gấp 2,5 lần giai đoạn trước, vượt mục tiêu đại hội. Chi ngân sách đáp ứng kịp thời cho thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực.

1.4- Phát triển doanh nghiệp và kinh tế hợp tác có chuyển biến tích cực: Trong 5 năm, thành lập mới 5.427 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập lên 12 nghìn, trong đó có khoảng 8.300 doanh nghiệp đang hoạt động, đạt tỷ lệ 23,5 doanh nghiệp đang hoạt động/1 vạn dân, tăng 10,1 doanh nghiệp so với năm 2010. Cùng với sự phát triển về số lượng, quy mô, năng lực và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được nâng lên; số doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký từ 10 - 100 tỷ đồng tăng 7,2%, từ 100 tỷ đồng trở lên tăng 1,1% so với năm 2010 (6); tổng doanh thu giai đoạn 2011 - 2015 ước đạt 370 nghìn tỷ đồng, gấp 2,1 lần giai đoạn 2006 - 2010; nộp ngân sách Nhà nước gấp 2,58 lần và chiếm 57% tổng thu nội địa; giải quyết việc làm cho khoảng 230 nghìn lao động, gấp 1,5 lần năm 2010. Thành lập mới 179 hợp tác xã, nâng tổng số hợp tác xã lên 983; trong đó, số hợp tác xã hoạt động khá, tốt chiếm 52,9%. Toàn tỉnh hiện có 771 trang trại(7), tăng 397 trang trại so với năm 2011.

2. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch đúng hướng, gắn với khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương.

Tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản trong GDP giảm từ 24,2% năm 2010 xuống còn 17,6% năm 2015; tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 41,4% lên 42%; tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 34,4% lên 40,4%.

- Cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của từng lĩnh vực, từng vùng, địa phương và ngày càng phù hợp hơn với nhu cầu thị trường. Trong ngành nông nghiệp, tỷ trọng trồng trọt giảm từ 70,7% năm 2010 xuống 60,5% năm 2015; tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 26,6% lên 35,5%; dịch vụ nông nghiệp tăng từ 2,3% lên 4%. Lâm nghiệp chuyển từ khai thác rừng là chủ yếu sang bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng. Khai thác xa bờ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong sản xuất thủy sản. Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng chi phối trong ngành công nghiệp; đang hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp mới, hiện đại, đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp như: lọc hoá dầu, sản xuất điện...

- Cơ cấu vùng kinh tế chuyển dịch rõ nét theo hướng hình thành các vùng kinh tế động lực, khu kinh tế, các khu công nghiệp và các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Trong cơ cấu của nền kinh tế đã có sự chuyển dịch từ đồng bằng và miền núi sang ven biển; vùng ven biển tăng 4,5%, vùng đồng bằng giảm 2,1%, vùng miền núi giảm 2,4%(8).

- Cơ cấu các thành phần kinh tế có sự thay đổi rõ rệt: kinh tế Nhà nước được tổ chức, sắp xếp lại và đổi mới cơ chế quản lý, hoạt động hiệu quả hơn; kinh tế ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, đa dạng, đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế(9); từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối trong phân bố theo vùng, miền; tỷ trọng doanh nghiệp vùng đồng bằng chiếm 60%, vùng biển chiếm 26%, vùng miền núi chiếm 14%. Kinh tế hợp tác phát triển tương đối đa dạng về ngành nghề và lĩnh vực hoạt động.

- Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực:  năm 2015 tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản giảm 11,2%, ngành công nghiệp - xây dựng tăng 8,4%, dịch vụ tăng 2,8%(10) so với năm 2010.

3. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ; huy động vốn cho đầu tư phát triển vượt kế hoạch; nhiều dự án lớn được khởi công; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVII), môi trường đầu tư kinh doanh có chuyển biến tích cực, các chỉ số đánh giá năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp đều tăng cao và nằm trong tốp đầu của cả nước. Công tác vận động, xúc tiến đầu tư được đổi mới theo hướng cụ thể đến từng dự án, từng nhà đầu tư; gắn hoạt động xúc tiến đầu tư với xúc tiến thương mại và du lịch; nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư lớn trong và ngoài nước được tổ chức thực hiện. Giai đoạn 2011 - 2015, đã thu hút 509 dự án đầu tư trực tiếp (25 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký 92.371 tỷ đồng và 2.555 triệu USD (gồm cả dự án Nhiệt điện Nghi Sơn II); điều chỉnh tăng vốn 25 dự án FDI với số vốn tăng thêm 2.945,4 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI còn hiệu lực lên 57 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký 12.605 triệu USD, đứng thứ 6 cả nước.

Tổng huy động vốn đầu tư phát triển 5 năm ước đạt 314.198 tỷ đồng, vượt 1,4% mục tiêu đại hội, gấp 3,7 lần giai đoạn 2005-2010. Cơ cấu vốn đầu tư chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng vốn ngân sách, tăng nhanh vốn FDI, vốn tín dụng, vốn của khu vực dân cư và các thành phần kinh tế khác. Kết quả đầu tư đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, tạo thêm sản phẩm mới, cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh. Các dự án lớn được khởi công xây dựng là: dự án nâng cấp Quốc lộ 47 đến đường Hồ Chí Minh; đường giao thông từ Cảng Hàng không Thọ Xuân đi Khu Kinh tế Nghi Sơn; đường vành đai phía Tây thành phố Thanh Hoá; dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị sân bay và khu hàng không dân dụng Cảng Hàng không Thọ Xuân; sân golf và khu nghỉ dưỡng quốc tế FLC, dự án hệ thống kênh tưới thuộc công trình hồ chứa nước Cửa Đạt.... Các cầu lớn như: Nguyệt Viên, Yên Hoành, Chiềng Nưa được hoàn thành; cầu Bút Sơn, cầu Thắm sẽ hoàn thành cuối năm 2015 đảm bảo xóa hết các điểm vượt sông bằng phà trên các tuyến quốc lộ; đã nâng cấp, mở rộng 349 km quốc lộ, 270 km tỉnh lộ; làm mới 490 km và cứng hóa 2.555 km đường giao thông nông thôn, nâng cấp 3 tuyến đường tỉnh dài 212 km lên quốc lộ; cải tạo, nâng cấp một số tuyến đường nội thị thành phố Thanh Hóa và các thị xã; nâng cấp 91 công trình thủy lợi đầu mối, kiên cố hóa 892 km kênh mương, 80 km đê, nhiều trạm bơm và các cảng cá, âu tránh trú bão cho tàu thuyền; đưa vào sử dụng một số bến của cụm Cảng Nghi Sơn; một số hạng mục thuộc hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; hoàn thành và đưa vào sử dụng các công trình văn hóa lớn, một số công trình thuộc các trường đại học, cao đẳng; kiên cố hóa 2.200 phòng học, 353 nhà công vụ giáo viên; tăng thêm 1.255 giường bệnh; hoàn thành 9 trung tâm y tế dự phòng; cơ sở vật chất, trang thiết bị của các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện được đầu tư, nâng cấp.

Hệ thống đô thị phát triển theo quy hoạch, phân bổ tương đối hợp lý giữa các vùng miền; toàn tỉnh hiện có 35 đô thị, gồm: 01 đô thị loại I, 01 loại III, 01 loại IV và 32 đô thị loại V. Tỷ lệ dân số đô thị đạt 25,8%, vượt mục tiêu đại hội.

4. Lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được chăm lo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện.

4.1- Hoạt động khoa học - công nghệ đã tập trung nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học - công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, y dược. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất; nhiều kỹ thuật cao được ứng dụng thành công trong khám, chữa bệnh; có thêm nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị; ứng dụng công nghệ thông tin; áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. Tiềm lực khoa học công nghệ được nâng lên. Hệ thống các tổ chức khoa học công nghệ được quan tâm đầu tư và đang chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; doanh nghiệp khoa học công nghệ được hình thành. Công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng được tăng cường.

4.2- Quy mô giáo dục phát triển hợp lý, chất lượng giáo dục đại trà được nâng lên, chất lượng giáo dục mũi nhọn trong tốp các tỉnh dẫn đầu cả nước. Đang từng bước thực hiện việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở các cấp học, bậc học để tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất về chất lượng giáo dục; chất lượng giáo dục miền núi từng bước được cải thiện; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS được giữ vững; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi trước thời hạn. Chế độ, chính sách đối với giáo viên mầm non được quan tâm, đã chuyển các trường mầm non bán công sang trường công lập. Đã chỉ đạo quyết liệt việc giải quyết số giáo viên dôi dư ở các cấp học, bậc học; chấn chỉnh việc tuyển dụng, bổ nhiệm, điều chuyển cán bộ, giáo viên; khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm trái quy định và vấn đề lạm thu trong các nhà trường. Kết quả thi học sinh giỏi, thi quốc gia, quốc tế và thi đại học luôn ở tốp đầu cả nước. Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 51,1%, vượt mục tiêu đại hội.

Quy mô, ngành nghề đào tạo của các trường chuyên nghiệp, dạy nghề tiếp tục được mở rộng; nội dung, phương pháp đào tạo từng bước được đổi mới gắn với nhu cầu xã hội; việc liên kết đào tạo được chấn chỉnh; đã thành lập Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phân hiệu Đại học y Hà Nội tại Thanh Hóa và một số trường cao đẳng nghề. Phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được đẩy mạnh.

4.3- Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên, nhiều kỹ thuật cao được ứng dụng thành công tại các bệnh viện tuyến tỉnh, đồng thời chuyển giao nhiều kỹ thuật mới cho bệnh viện tuyến huyện. Công tác y tế dự phòng và vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Xã hội hóa y tế đạt khá; một số bệnh viện ngoài công lập đã hoàn thành đi vào hoạt động. Các chỉ tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe, dân số - kế hoạch hóa gia đình đều đạt và vượt mục tiêu; trong đó tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế ước đạt 90,9% (theo tiêu chí cũ), vượt mục tiêu đại hội.

4.4- Hoạt động văn hóa, thông tin, văn học - nghệ thuật tập trung tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị, tổ chức thành công Năm Du lịch Quốc gia 2015 - Thanh Hóa và các sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hóa được quan tâm; Thành Nhà Hồ được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới, Khu Di tích lịch sử Lam Kinh, Khu Di tích Bà Triệu được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới” được đẩy mạnh. Các chỉ tiêu về văn hóa đều đạt và vượt mục tiêu. Hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình tiếp tục đổi mới về nội dung, hình thức, chất lượng được nâng lên; tăng thêm thời lượng phát sóng chương trình tiếng dân tộc.

4.5- Lĩnh vực thể dục - thể thao có nhiều chuyển biến, phong trào thể dục, thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh; tỷ lệ dân số tập luyện thể thao thường xuyên tăng 7%. Thể thao thành tích cao (điền kinh, bơi lội, võ vật,...), bóng đá luôn đứng ở tốp đầu cả nước, giành nhiều huy chương tại các giải quốc gia, quốc tế và có đóng góp lớn cho thể thao quốc gia.

4.6- Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo được triển khai tích cực; trong 5 năm đã giải quyết việc làm cho trên 300 nghìn lao động, trong đó có 45,8 nghìn người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đạt mục tiêu đại hội. Các chương trình giảm nghèo được lồng ghép và thực hiện có hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,57%/năm, đạt mục tiêu đại hội(11).  Các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng; huy động được sự tham gia tích cực của toàn xã hội đối với phong trào đền ơn, đáp nghĩa, trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn, bị thiên tai.

5. Quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu có chuyển biến tích cực.

Công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên, từ quản lý quy hoạch, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, đến đấu giá quyền khai thác khoáng sản đi vào nền nếp; đã cơ bản giải quyết tình trạng khai thác, vận chuyển khoáng sản, cát sỏi trái phép, hạn chế thất thoát tài nguyên. Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện được phê duyệt; hoàn thành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đạt 97,9%. Tập trung chỉ đạo giải quyết, từng bước khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, các bệnh viện, nơi công cộng. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát sử dụng đất, hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản và môi trường được tăng cường.

Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội về bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu. Đã triển khai nhiều dự án cải tạo, nâng cấp, chống sạt lở đê sông, đê biển; hoàn thành kế hoạch trồng rừng tập trung và trồng rừng ngập mặn ven biển; phê duyệt 11 dự án bố trí, ổn định dân cư các vùng thiên tai, với mục tiêu bố trí ổn định cho 4.835 hộ dân, đến nay đã bố trí được 2.042 hộ, đạt 42,2% kế hoạch; có phương án giải quyết kịp thời nước ngọt phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân vùng ven biển bị nước mặn xâm thực; triển khai tích cực các phương án phòng chống lụt bão, tiềm kiếm cứu nạn, cứu hộ, hạn chế thấp nhất thiệt hại khi thiên tai xảy ra.

6- Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; cải cách tư pháp có chuyển biến tích cực; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế được tăng cường và mở rộng.

Triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược an ninh quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội đảm bảo ổn định. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân được củng cố vững chắc. Công tác xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện dân chủ ở cơ sở được tiến hành thường xuyên, có chất lượng. Lực lượng quân sự, công an, biên phòng được xây dựng, củng cố vững mạnh; tiềm lực quốc phòng - an ninh và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang được nâng cao. Thường xuyên nắm chắc tình hình, thực hiện nghiêm túc chế độ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện diễn tập khu vực phòng thủ, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, hoàn thành chỉ tiêu tuyển gọi thanh niên nhập ngũ.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; giải quyết ổn định các vấn đề nổi cộm, bức xúc trong nhân dân, không để xảy ra ”điểm nóng”. Các chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, phòng chống ma tuý, tệ nạn xã hội và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Nhiều băng, nhóm tội phạm nguy hiểm được triệt phá; hiệu quả quản lý Nhà nước về an ninh trật tự được nâng lên; tai nạn giao thông, cháy, nổ được kiềm chế, tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội.

Cải cách tư pháp được tăng cường, hoạt động của các cơ quan tư pháp bảo đảm đúng pháp luật; chất lượng, hiệu quả được nâng lên, cơ bản không để xảy ra các vụ án oan, sai. Nhiều vụ án trọng điểm, phức tạp được điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, có tác dụng phòng ngừa, giáo dục cao.

Công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế mang lại hiệu quả tích cực. Quan hệ hợp tác của tỉnh với đại sứ quán các nước tại Việt Nam, các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài chính quốc tế, các tập đoàn kinh tế, các tỉnh, thành phố trong và ngoài nước ngày càng được mở rộng; ngoại giao kinh tế đi vào thực chất và hiệu quả hơn. Hợp tác toàn diện với tỉnh Hủa Phăn (Lào) được tăng cường, củng cố; tiếp tục mở rộng quan hệ và đã ký kết thỏa thuận hợp tác với thành phố Seongnam (Hàn Quốc), tỉnh Mittelsachen (CHLB Đức), tỉnh Xiêng Khoảng (Lào). Công tác đối ngoại nhân dân được quan tâm và đạt kết quả tích cực, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại với bạn bè quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, tuyên truyền quảng bá về con người, văn hoá xứ Thanh. Công tác đối với người Thanh Hóa ở nước ngoài có chuyển biến tốt hơn, giúp kiều bào hiểu rõ hơn tình hình tỉnh nhà, góp phần chung sức xây dựng quê hương.

7. Các chương trình trọng tâm được chỉ đạo thực hiện đạt kết quả, góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

7.1- Chương trình phát triển Khu Kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp, khu công nghệ cao được ưu tiên đầu tư: Hoàn thành cơ bản quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng và ban hành chính sách khuyến khích đầu tư vào Khu Kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp. Đang tiến hành điều chỉnh quy hoạch mở rộng Khu Kinh tế Nghi Sơn; đã quy hoạch và triển khai bước đầu Khu Công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng. Kết cấu hạ tầng được đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại. Trong 5 năm, đã thu hút 115 dự án (09 dự án FDI) với tổng vốn đăng ký 39.777 tỷ đồng và 2.453,34 triệu USD; điều chỉnh tăng vốn đầu tư cho 26 dự án (08 dự án FDI) với tổng vốn tăng thêm 18.225 tỷ đồng và 3.122 triệu USD. Tổng số dự án thu hút đến nay là 323 (23 dự án FDI) với tổng vốn đăng ký đạt 107.670 tỷ đồng và 12,46 tỷ USD. Giá trị sản xuất của các doanh nghiệp ước đạt 67.000 tỷ đồng; nộp ngân sách Nhà nước 13.500 tỷ đồng, xuất khẩu 1,5 tỷ USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch; giải quyết việc làm cho 63.700 người (chưa tính khoảng 35.000 lao động xây dựng Dự án Lọc hóa dầu). Một số dự án trọng điểm, có tác động lan tỏa lớn đang được đẩy nhanh tiến độ, đặc biệt là Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Năng lực bốc xếp hàng hóa qua cụm Cảng Nghi Sơn năm 2015 ước đạt 10 triệu tấn, gấp 2,5 lần năm 2010.

7.2- Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực, nhiều chỉ tiêu chủ yếu của chương trình vượt kế hoạch như: tốc độ tăng trưởng ngành nông, lâm, thủy sản; sản lượng lương thực; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh ước đạt 97,7% (theo tiêu chí cũ). Đang triển khai thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát triển nhiều mô hình sản xuất mới, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị canh tác và thu nhập của nông dân. Triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới với cách làm sáng tạo, phù hợp với khả năng và điều kiện của từng vùng, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Đến cuối năm 2015 có 86 xã và 20 thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới; bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc.

7.3- Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền Tây được tập trung chỉ đạo: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm ước đạt 10,2%. Sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt kết quả khá; các vùng cây nguyên liệu ở một số huyện, gắn với chế biến phát triển ổn định. Sản xuất công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp ước tăng 12,4%/năm; một số dự án công nghiệp - giải quyết nhiều việc làm đã được đầu tư vào khu vực. Các ngành dịch vụ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường. Các hoạt động văn hoá - xã hội có chuyển biến tiến bộ; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện hơn, các chỉ tiêu chủ yếu về xã hội, môi trường đều vượt và hoàn thành kế hoạch. Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi theo Nghị quyết 09-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đạt kết quả bước đầu. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 giảm còn 15,5%(12), bình quân mỗi năm giảm 6,16%, vượt kế hoạch. Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững.

7.4- Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng biển: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 12,5%/năm, cao hơn bình quân chung cả tỉnh. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị sản xuất ước tăng 14,2%. Dịch vụ phát triển nhanh, đa dạng. Hạ tầng giao thông, điện, hạ tầng nghề cá, mạng thông tin liên lạc, các cơ sở lưu trú du lịch tại Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa được đầu tư, nâng cấp theo hướng văn minh, hiện đại; môi trường du lịch có nhiều tiến bộ; du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng ngày càng tăng; giá trị hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu năm 2015 ước đạt 521,6 triệu USD, vượt mục tiêu. Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả toàn diện; áp dụng cơ giới hóa và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất có sự chuyển biến rõ nét hơn.

7.5- Chương trình phát triển nguồn nhân lực đạt kết quả bước đầu, năm 2015, toàn tỉnh có 2.167 nghìn lao động làm việc trong nền kinh tế; bình quân mỗi năm có trên 73 nghìn lao động qua đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40% năm 2010 lên 55% năm 2015, đạt mục tiêu đại hội. Cơ cấu lao động chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản, tăng tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Các cơ sở đào tạo phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở dạy nghề được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và cơ bản đạt chuẩn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được chú trọng, đã lựa chọn một số cán bộ trẻ, có triển vọng đưa đi đào tạo tại các trường đại học có uy tín ở nước ngoài.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên được nâng lên.

1.1- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có sự đổi mới cả về nội dung, phương pháp, hình thức tiến hành và mang lại hiệu quả thiết thực.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể đã thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chú trọng nâng cao hiệu quả quán triệt, triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh; đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng, đạo đức lối sống, bồi dưỡng kiến thức mới, qua đó tạo sự chuyển biến về nhận thức, khơi dậy lòng tự hào, tinh thần yêu quê hương, đất nước, lao động sáng tạo của cán bộ, đảng viên và nhân dân, thi đua thực hiện mục tiêu xây dựng Thanh Hoá trở thành tỉnh tiên tiến.

Tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ổn định, tin tưởng, phấn khởi, đồng thuận với sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chỉ đạo, điều hành, quản lý của chính quyền và sự phát triển của quê hương, đất nước.

Các hoạt động thông tin, báo chí đã tập trung tuyên truyền chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của tỉnh, cổ vũ các nhân tố mới, mô hình mới, các phong trào thi đua yêu nước. Công tác báo cáo viên, tuyên truyền viên được quan tâm; cơ sở vật chất, các điều kiện, phương tiện phục vụ công tác tuyên giáo được tăng cường. Trường Chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện được quan tâm đầu tư xây dựng, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đến nay đã có 6 trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn.

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, các cấp ủy đã chú trọng công tác sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện các chủ trương, chính sách, trên cơ sở đó bổ sung, điều chỉnh các chủ trương, giải pháp phù hợp, gắn với quan tâm phổ biến những kinh nghiệm hay, cách làm mới, nhân rộng các điển hình tiên tiến.

1.2- Công tác tổ chức, cán bộ được triển khai thực hiện tương đối đồng bộ, có nhiều đổi mới, đạt kết quả khá toàn diện.

- Tổ chức bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp tiếp tục được sắp xếp, kiện toàn theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 7 khoá XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở”; gắn với bổ sung, ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức; ban hành các quy định về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị.

- Triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đáp ứng tốt hơn vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Đặc biệt quan tâm củng cố các chi bộ Đảng ở khu dân cư, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng tôn giáo. Chú trọng tạo nguồn để bồi dưỡng, kết nạp đảng viên mới, nhất là ở những nơi còn ít, nơi chưa có đảng viên; trung bình mỗi năm kết nạp trên 7.000 đảng viên, vượt mục tiêu đại hội; đến nay tất cả các thôn, bản đã có đảng viên và không còn chi bộ sinh hoạt ghép, hoàn thành mục tiêu đại hội. Tỷ lệ đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh và đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ ngày càng tăng; tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng yếu kém còn 0,73%, giảm 0,19% so với nhiệm kỳ trước.

- Công tác cán bộ được triển khai tương đối đồng bộ, bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục ở tất cả các khâu. Các cấp ủy Đảng đã chủ động cụ thể hoá các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy, chất lượng công tác quy hoạch, bố trí cán bộ được nâng lên, khắc phục một bước tình trạng khép kín, cục bộ trong ngành, địa phương, đảm bảo tính liên thông; gắn quy hoạch với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá cán bộ của mỗi cấp và các chức danh trong hệ thống chính trị, trong 5 năm đã có 1.331 đồng chí được cử đi học cao cấp lý luận chính trị, 7.103 đồng chí học trung cấp lý luận chính trị; chọn cử 540 đồng chí đi đào tạo nâng cao (từ thạc sĩ trở lên), trong đó có 26 cán bộ trẻ được cử đi đào tạo tại nước ngoài. Tập trung khắc phục những hạn chế trong khâu đánh giá cán bộ, đánh giá đúng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân làm cơ sở để xem xét, quyết định việc bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, bầu cử vào các chức danh lãnh đạo. Việc điều động, luân chuyển cán bộ được coi là khâu đột phá; chú trọng luân chuyển đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý không phải là người địa phương và luân chuyển ngang; trong nhiệm kỳ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã điều động, luân chuyển 47 cán bộ; cấp huyện đã điều động, luân chuyển 150 cán bộ từ huyện xuống xã và từ xã lên huyện, luân chuyển ngang 130 đồng chí từ xã này sang xã khác. Tuyển chọn và đưa 1.500 người có trình độ đại học chính quy về công tác tại xã, phường, thị trấn. Rà soát, bổ sung, thực hiện nghiêm túc chính sách đối với cán bộ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện đúng quy định, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh.

1.3- Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng.

Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng của cấp ủy, tổ chức Đảng và ủy ban kiểm tra các cấp được tăng cường, có hiệu lực, hiệu quả hơn. Luôn coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và của cấp ủy các cấp trong việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ; quy chế làm việc; Quy định về những điều đảng viên không được làm; việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí; việc khắc phục sửa chữa khuyết điểm sau kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và cải cách thủ tục hành chính,... Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy định, quy chế, quy trình kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, tạo sự thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát.

Trong nhiệm kỳ, cấp ủy và tổ chức Đảng các cấp đã kiểm tra 7.340 lượt tổ chức Đảng, 24.845 lượt đảng viên; tiến hành giám sát đối với 5.305 lượt tổ chức Đảng, 22.319 lượt đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 4.871 lượt tổ chức Đảng, 16.581 lượt đảng viên; phát hiện và kiểm tra 392 tổ chức Đảng cấp dưới, 2.275 đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; giải quyết kịp thời tố cáo đối với 23 tổ chức Đảng và 840 đảng viên; giải quyết 30 lượt khiếu nại về kỷ luật Đảng; kiểm tra tài chính Đảng đối với 171 tổ chức Đảng. Đã thi hành kỷ luật 50 tổ chức Đảng (giảm 38 tổ chức Đảng so với nhiệm kỳ trước), bằng các hình thức: khiển trách 41, cảnh cáo 9; thi hành kỷ luật 2.433 đảng viên (giảm 568); bằng các hình thức: khiển trách 1.354, cảnh cáo 732, cách chức 112, khai trừ 235; đảng viên bị xử lý bằng pháp luật 130 (tăng 16 trường hợp). Qua đó, góp phần giữ vững kỷ cương, tăng cường kỷ luật của Đảng, có tác dụng cảnh báo, răn đe, ngăn ngừa vi phạm; ngăn chặn và đẩy lùi một bước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí; thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng.

1.4- Công tác dân vận được tăng cường, quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ, tăng cường tiếp xúc, đối thoại, giải quyết các kiến nghị của nhân dân; triển khai thực hiện Quy định về trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền trong việc tiếp thu ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân. Tổ chức, hoạt động của hệ thống dân vận đã có đổi mới, hướng về cơ sở, tham mưu cho cấp ủy Đảng triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác vận động quần chúng, công tác dân tộc, tôn giáo; tham gia xây dựng cơ sở và thực hiện quy chế dân chủ; triển khai có hiệu quả phong trào “dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới.

1.5- Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí được quan tâm, chỉ đạo đạt kết quả bước đầu.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền đã triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong thực hiện phòng chống tham nhũng, lãng phí; quan tâm công tác tuyên truyền và các giải pháp phòng ngừa; công khai minh bạch các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường quản lý kinh tế, ngân sách Nhà nước, tài sản công và các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí; chỉ đạo thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, điều tra, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, đã có tác dụng răn đe, giáo dục chung, bước đầu đã hạn chế các hành vi tham nhũng; tình trạng lãng phí từng bước được kiềm chế. Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm thực hiện theo quy định, tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc phức tạp, kéo dài, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

1.6- Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Chỉ thị 03-CT/T.Ư của Bộ Chính trị nghiêm túc, đạt kết quả quan trọng.

- Sau khi thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), các cấp ủy đã xác định những nhiệm vụ cấp bách trước mắt và tập trung lãnh đạo tạo được sự chuyển biến rõ nét như: công tác quản lý đầu tư xây dựng, quản lý vốn đầu tư từ ngân sách, quản lý đất đai, công tác cán bộ. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020; các quy chế, quy định nhằm tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên; chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm khắc phục những sơ hở trong quản lý kinh tế trên một số lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực, tham nhũng; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Các cấp ủy Đảng nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, thực hiện khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, khuyết điểm, khắc phục một bước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Cùng với đổi mới các khâu trong công tác cán bộ, Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp đã tập trung chỉ đạo thực hiện khắc phục khâu yếu là đánh giá cán bộ; nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ; tăng cường điều động, luân chuyển cán bộ; thực hiện quy trình bổ nhiệm có số dư, khắc phục tư tưởng khép kín, cục bộ trong công tác cán bộ.

Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tập trung khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện Quy định 51-QĐ/T.Ư của Ban Bí thư Trung ương Đảng; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo.

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 03-CT/T.Ư của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Quy định số 101-QĐ/T.Ư của Ban Bí thư và Quyết định 1089-QĐ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đã tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh; tạo sự chuyển biến, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc được giao của từng cá nhân, từng tập thể, địa phương, đơn vị. Các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị tiến hành rà soát, lựa chọn một số vấn đề bức xúc, nổi cộm trong lĩnh vực, ngành, địa phương để xây dựng kế hoạch, xác định thời gian, tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm, tạo sự chuyển biến trong thực hiện nhiệm vụ. Hằng năm, các cấp ủy đều tổ chức sơ kết việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/T.Ư của Bộ Chính trị gắn với biểu dương các điển hình tiên tiến và phát động phong trào thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

1.7- Phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy và các cấp ủy Đảng đã có nhiều đổi mới, tính kế hoạch hoá cao hơn; vừa đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện trên các lĩnh vực, vừa có trọng tâm, trọng điểm theo từng thời gian; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các mục tiêu, nhiệm vụ đã quyết định, giải quyết những công việc cấp bách; bàn và quyết định những chủ trương, chính sách lớn có tác động lâu dài đến sự phát triển của địa phương; tăng cường đi cơ sở trực tiếp chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải quyết những vấn đề phát sinh tại các địa phương. Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với chính quyền, MTTQ và các đoàn thể được thực hiện linh hoạt, vừa đảm bảo nguyên tắc, vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa tạo điều kiện cho chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chủ động hơn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

2. Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và HĐND các cấp có nhiều đổi mới; công tác quản lý Nhà nước, hiệu lực, hiệu quả điều hành của UBND các cấp được nâng lên.

Đoàn đại biểu Quốc hội khoá XIII của tỉnh đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm, gắn bó với cử tri, kịp thời phản ánh và đề nghị chính quyền các cấp giải quyết nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của cử tri; tập hợp những ý kiến xác đáng đóng góp trong thảo luận các dự án luật, các nghị quyết tại các kỳ họp Quốc hội.

Vai trò của HĐND các cấp được phát huy trong việc quyết định các vấn đề lớn về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương, đồng thời tăng cường giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan thuộc UBND các cấp, nhất là việc thực hiện cải cách hành chính, triển khai thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết các kiến nghị của cử tri, những vấn đề nổi cộm, bức xúc nhân dân quan tâm. Chất lượng các kỳ họp HĐND được nâng lên, tạo điều kiện để các đại biểu tham gia ý kiến, quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền.

Hoạt động của UBND các cấp có nhiều đổi mới, chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ hơn, hạn chế sự chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ; trách nhiệm của người đứng đầu, sự chủ động trong chỉ đạo, điều hành, quản lý được nâng lên, hoạt động linh hoạt, hiệu quả hơn. Trong chỉ đạo, điều hành đã tập trung nhiều hơn vào những vấn đề lớn tác động đến sự phát triển lâu dài của địa phương; chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư; nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội; tập trung giải quyết tốt nhiều vấn đề xã hội bức xúc được nhân dân đồng tình như: chế độ đối với giáo viên mầm non, vấn đề dạy thêm, học thêm, thi tuyển công chức, đảm bảo quốc phòng - an ninh. Kỷ cương, kỷ luật hành chính được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực được nâng lên.

Cải cách hành chính được quan tâm chỉ đạo thực hiện và đạt được kết quả tích cực, từng bước đơn giản hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian, giảm bớt đầu mối cơ quan, đơn vị cùng giải quyết một công việc; công khai, minh bạch các thủ tục hành chính. Cơ chế “một cửa” phát huy hiệu quả, tạo điều kiện cho tổ chức, công dân tiếp cận và giải quyết công việc; chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh trong top đầu của cả nước, tỷ lệ hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công tăng cao, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

3. Hoạt động của MTTQ, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội  tiếp tục có sự đổi mới, ngày càng thiết thực hơn.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các hội quần chúng đã chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; hướng về cơ sở, chăm lo xây dựng, củng cố tổ chức, thu hút, tập hợp đoàn viên, hội viên. Coi trọng tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước đến đoàn viên, hội viên và nhân dân; triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều phong trào thi đua yêu nước, phát huy quyền làm chủ, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn mới, xây dựng Đảng, chính quyền. Quan tâm nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng để kiến nghị với cấp ủy Đảng, chính quyền giải quyết những bức xúc của nhân dân; hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo. Thông qua hoạt động của mình, hệ thống tổ chức của MTTQ và các đoàn thể được kiện toàn, củng cố; góp phần tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên được nâng lên: hội cựu chiến binh đạt 97,5%, hội phụ nữ đạt 73,3%, hội nông dân đạt 91,9%, đoàn thanh niên đạt 67,3%, liên đoàn lao động đạt 81%.

III. NGUYÊN NHÂN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ

1- Nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo; sự quan tâm hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương

2- Đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong nhân dân được giữ vững, tạo được sự đồng thuận, không khí tin tưởng, phấn khởi để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thi đua thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

3- Cấp ủy, chính quyền các cấp đã tranh thủ tốt thời cơ, vận hội mới để chủ động xây dựng, triển khai thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành linh hoạt, quyết liệt, sát với thực tiễn; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các ngành, các cấp và của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

4- Kết quả thực hiện các cơ chế, chính sách, các chương trình, dự án lớn phát triển kinh tế - xã hội của các giai đoạn trước đang phát huy hiệu quả, cùng với những cơ chế, chính sách mới ban hành, đã góp phần cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút thêm nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển.

B. NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN

I. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM:

1. Về kinh tế - xã hội; quốc phòng - an ninh

1.1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GDP bình quân đầu người chưa đạt mục tiêu đại hội; mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chi phí trung gian còn cao và có xu hướng tăng.

Sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn manh mún, phát triển thiếu bền vững; chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu, phần lớn sản phẩm chưa có thương hiệu; cơ chế vận hành các vùng nguyên liệu còn bất cập, thiếu sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ; thu nhập của nông dân chậm được cải thiện. Sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp chưa cao; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển; tiểu-thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn phát triển khó khăn. Các loại hình dịch vụ cao cấp, dịch vụ có giá trị gia tăng cao phát triển chưa mạnh; sản phẩm du lịch còn đơn điệu, nhiều dự án về du lịch triển khai kéo dài. Xuất khẩu sản phẩm thô, hàng gia công chiếm tỷ trọng lớn.

Tỷ lệ doanh nghiệp so với dân số còn thấp, chủ yếu là doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, năng lực tài chính và năng lực quản trị kinh doanh yếu, khả năng thích ứng và hội nhập quốc tế khó khăn. Doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn và miền núi chưa nhiều; vẫn còn thiếu những doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt, tạo lập chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp; doanh nghiệp khoa học - công nghệ rất ít; kinh tế hợp tác phát triển chậm, hoạt động khó khăn.

1.2- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt mục tiêu. Tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành lâm nghiệp và thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Trong ngành công nghiệp, sản phẩm truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng cao; các sản phẩm mới, sản phẩm có hàm lượng khoa học - công nghệ cao chưa nhiều. Ngành dịch vụ ít biến động; các dịch vụ mới, có giá trị gia tăng cao chiếm tỷ trọng thấp.

Mối liên kết phát triển giữa các vùng chưa rõ; vai trò, sức lan toả của các vùng kinh tế động lực, các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng lân cận còn hạn chế.

1.3- Môi trường đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và các lĩnh vực văn hoá, phúc lợi xã hội chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh nhìn chung vẫn còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, các thiết chế văn hoá ở miền núi. Hạ tầng kỹ thuật đô thị chưa đồng bộ; thiếu các công trình phúc lợi công cộng. Công tác quản lý quy hoạch ở một số lĩnh vực còn hạn chế, như quy hoạch nông nghiệp, đất đai, tài nguyên, y tế... Tỷ lệ đô thị hoá thấp. Vi phạm các quy định về quản lý tài nguyên, khoáng sản và ô nhiễm môi trường vẫn còn xảy ra.

1.4- Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng miền; chất lượng đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu xã hội. Tình trạng quá tải tại các bệnh viện công lập còn phổ biến, trong khi một số bệnh viện tư nhân chưa được khai thác có hiệu quả. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá  hiệu quả chưa cao; một số loại hình văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân các dân tộc có nguy cơ mai một. Vấn đề nhà ở công nhân chậm được giải quyết; đình công, nghỉ việc tập thể còn xảy ra; nợ bảo hiểm xã hội gia tăng. Công tác xoá đói, giảm nghèo kết quả chưa thực sự vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao.

1.5- An ninh trên tuyến biên giới, tuyến biển và an ninh trên các địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn yếu tố có thể gây mất ổn định; các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, người dân xuất cảnh trái phép đi lao động ở nước ngoài có thời điểm diễn biến phức tạp. Mâu thuẫn, khiếu kiện trong nhân dân, trong doanh nghiệp, nhất là khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng có xu hướng gia tăng; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số đơn vị, địa phương chưa kịp thời và đồng bộ, còn để kéo dài, đông người tham gia. Tội phạm trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đòi nợ thuê, hoạt động “tín dụng đen”, ma túy, cờ bạc có nơi, có lúc còn xảy ra nhiều; tai nạn giao thông tuy giảm, nhưng vẫn ở mức cao. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được tiến hành thường xuyên, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao.

1.6- Kết quả thực hiện các chương trình trọng tâm còn có mặt hạn chế, nhất là Chương trình phát triển nguồn nhân lực và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng biển.

2. Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

2.1- Về công tác xây dựng Đảng: Một số cấp ủy, tổ chức Đảng chưa quan tâm đúng mức việc nắm tình hình tư tưởng và giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Việc tổ chức triển khai, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng đến đảng viên còn hạn chế. Hoạt động của ban tuyên giáo đảng ủy cấp xã chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác tổng kết thực tiễn còn hạn chế, chưa chú ý nhiều đến việc nhân rộng các điển hình tiên tiến, cách làm hay, sáng tạo từ thực tiễn.

Vẫn còn có tổ chức cơ sở Đảng yếu kém, vai trò, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu bị suy giảm; mô hình tổ chức và hoạt động của một số tổ chức Đảng còn bất cập; xây dựng tổ chức Đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước và phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn, miền núi còn khó khăn; sinh hoạt chi bộ chưa có nhiều đổi mới. Đánh giá cán bộ không ít nơi vẫn còn nể nang, chưa đúng thực chất; một số nơi thực hiện công tác cán bộ chưa đúng quy định, còn sai phạm trong tiếp nhận và bố trí, sử dụng cán bộ; đội ngũ cán bộ ở một số lĩnh vực, ngành và địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc ở các ngành còn thấp; số đảng viên trẻ mới kết nạp gắn với tạo nguồn cán bộ cho cơ sở còn ít.

Tác dụng của một số cuộc kiểm tra, giám sát chưa cao; việc chủ động phát hiện và tiến hành kiểm tra tổ chức Đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm ở một số cơ sở còn hạn chế; nhiều khuyết điểm của tổ chức Đảng và đảng viên chậm được phát hiện và khắc phục ngay từ cơ sở. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí kết quả còn hạn chế.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và Chỉ thị số 03-CT/T.Ư của Bộ Chính trị chưa tạo được chuyển biến thật sự mạnh mẽ, nên tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao.

Một số cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị chưa chú trọng đổi mới phong cách và lề lối làm việc, phân công chưa cụ thể, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thiếu cương quyết; trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân chưa được phân định rõ; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế dân chủ xảy ra ở một số địa phương, đơn vị.

Công tác dân vận nhìn chung chưa có nhiều đổi mới; việc nắm bắt, dự báo tình hình nhân dân, tình hình dân tộc, tôn giáo và đề xuất các giải pháp thực hiện có lúc, có nơi chưa kịp thời.

2.2- Về công tác quản lý, điều hành của chính quyền: Công tác quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội và sản xuất, đời sống của nhân dân. Tổ chức, bộ máy của một số cơ quan Nhà nước còn bất cập, biên chế tăng thêm nhưng hoạt động thiếu hiệu quả; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu ở một số ngành, địa phương còn hạn chế để cho địa phương, đơn vị phụ trách trì trệ, yếu kém kéo dài. Cải cách hành chính có mặt chưa đạt yêu cầu đề ra, vẫn còn tình trạng một số ngành, một số cán bộ, công chức gây phiền hà, sách nhiễu trong giải quyết công việc cho tổ chức, công dân.

2.3- Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chất lượng, hiệu quả có mặt còn hạn chế; tổ chức đoàn thể ở thôn, bản có nơi mang tính hình thức, chưa thể hiện tốt vai trò tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm ở cơ sở; triển khai thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội còn lúng túng.

II. NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM

1- Nguyên nhân khách quan: Do chưa lường hết được những diễn biến rất phức tạp của tình hình chính trị, kinh tế thế giới, khu vực và những khó khăn của kinh tế trong nước, nên một số chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra khá cao; đặc biệt Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn triển khai chậm gần 3 năm, đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2011-2015. Bên cạnh đó, thời tiết, dịch bệnh diễn biến thất thường đã ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và đời sống của nhân dân.

2- Nguyên nhân chủ quan: Một số ngành, địa phương chưa xác định và lựa chọn đúng nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm để dồn sức chỉ đạo thực hiện; triển khai thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh còn thiếu chủ động, sáng tạo, nên hiệu quả đạt được chưa cao. Công tác chỉ đạo, điều hành của một số sở, ban, ngành, địa phương chưa thực sự sâu sát, cụ thể và thiếu quyết liệt; quan hệ phối hợp giữa các ngành, các cấp có lúc, có việc chưa thực sự chặt chẽ. Trách nhiệm của người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ chưa cao, chưa nắm bắt kịp thời và chưa có biện pháp khắc phục, xử lý nghiêm cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm. Kỷ luật, kỷ cương hành chính có lúc, có nơi chưa nghiêm; một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu về trình độ, năng lực và thiếu tinh thần trách nhiệm; có biểu hiện quan liêu, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức và công dân, cản trở hoạt động đầu tư và phát triển sản xuất, kinh doanh.

C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Năm năm qua, trong bối cảnh có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen; song với truyền thống cách mạng kiên cường, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh đã chủ động, sáng tạo, đề ra và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp phù hợp với tình hình thực tế; cùng với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tỉnh ta đã đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong số 25 chỉ tiêu chủ yếu do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra, có 8 chỉ tiêu hoàn thành vượt mức; 8 chỉ tiêu hoàn thành; 9 chỉ tiêu chưa hoàn thành(13). Tuy mức tăng trưởng kinh tế chưa đạt kế hoạch, nhưng là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay; cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch đúng hướng; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ, các chỉ số đánh giá năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền tăng cao và nằm trong tốp đầu cả nước; quan hệ đối ngoại được mở rộng, đi vào thực chất và đạt kết quả tích cực, góp phần nâng cao thế và lực của tỉnh; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc. Văn hóa, xã hội có chuyển biến tiến bộ, giáo dục mũi nhọn, thể thao thành tích cao luôn xếp trong tốp đầu cả nước; đời sống vật chất và mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân được nâng lên. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng được nâng lên; cải cách hành chính được đẩy mạnh; hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước có chuyển biến tích cực; khối đại đoàn kết toàn dân được phát huy, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và có tác động tích cực, toàn diện đến đời sống xã hội. Đây là những kết quả hết sức quan trọng, tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển trong giai đoạn tới.

Từ thực tiễn phong trào cách mạng và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành trong nhiệm kỳ qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tạo không khí sinh hoạt dân chủ, cởi mở, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ, phát huy sức mạnh tạo sự bứt phá trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ.

Hai là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, từ công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đến công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng, điều động, luân chuyển cán bộ; đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là của người đứng đầu; đánh giá cán bộ công tâm, khách quan theo tiêu chí cụ thể, nhất là các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tạo động lực, quyết tâm để cán bộ, đảng viên phấn đấu vươn lên thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Ba là, chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo; quyết liệt trong chỉ đạo, quản lý, điều hành; linh hoạt trong xử lý tình huống; nghiêm minh trong kiểm tra, xử lý vi phạm; tập trung dồn sức cho những khâu đột phá, tạo ra động lực mới cho sự phát triển.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHIỆM KỲ 2015 - 2020

Bước vào thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2015-2020, chúng ta có những thuận lợi cơ bản do kinh tế thế giới phục hồi, dự báo mức tăng trưởng cao hơn giai đoạn trước. Trong nước, kinh tế vĩ mô ổn định và lấy lại đà tăng trưởng, lạm phát được kiểm soát; thể chế kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện; quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Sau gần 30 năm đổi mới, thế và lực của tỉnh ta đã lớn mạnh hơn và có thêm nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành; môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; nhiều dự án lớn hoàn thành sẽ nâng cao năng lực sản xuất và là hạt nhân thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh và con em xa quê đều mong muốn góp phần xây dựng quê hương phát triển, xứng đáng với truyền thống tỉnh Thanh “địa linh, nhân kiệt”.

Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực trong những năm tới còn diễn biến phức tạp, khó lường. Kinh tế nước ta tuy thoát khỏi tình trạng suy giảm, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; một số hiệp định thương mại bắt đầu có hiệu lực từ năm 2015 làm cho cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong tỉnh, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng là chủ yếu, trong khi các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm; năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và sản phẩm còn thấp; nhu cầu đầu tư cho phát triển rất lớn nhưng nguồn lực còn hạn hẹp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường còn diễn biến phức tạp; năng lực, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế; tư tưởng trông chờ, ỉ lại vẫn còn trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, là những yếu tố không thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

A. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM

I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ thời cơ, vận hội mới, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nhanh chóng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và các hoạt động văn hoá - xã hội; thực hiện tốt công tác giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội; tăng cường bảo vệ môi trường, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội; phấn đấu đến năm 2020 trở thành tỉnh tiên tiến; đến năm 2025 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

II. PHƯƠNG CHÂM HÀNH ĐỘNG

Đoàn kết - kỷ cương - sáng tạo - phát triển

III. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Về kinh tế

1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GRDP bình quân 5 năm đạt 12%/năm trở lên(14).

2. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.600 USD trở lên.

3. Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP năm 2020: nông, lâm, thủy sản chiếm 12%; công nghiệp - xây dựng chiếm 53,7%; dịch vụ chiếm 34,3%.

4. Tổng sản lượng lương thực bình quân hằng năm giữ ổn định 1,5 triệu tấn.

5. Tổng giá trị xuất khẩu năm 2020 đạt 1,9 tỷ USD trở lên.

6. Tổng huy động vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 610 nghìn tỷ đồng.

7. Tỷ lệ đô thị hoá năm 2020 đạt 35% trở lên.

8. Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020 đạt 50% trở lên.

9. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân hàng năm 11%.

2. Về văn hoá - xã hội

10. Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm dưới 0,65%.

11. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đến năm 2020 chiếm 35 - 38%.

12. Đến năm 2020 đạt 10 bác sĩ/1 vạn dân.

13. Đến năm 2020 đạt 28,4 giường bệnh/vạn dân.

14. Tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế năm 2020 đạt 70% theo chuẩn mới.

15. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên tổng số dân năm 2020 đạt 80% trở lên.

16. Trong 5 năm giải quyết việc làm mới cho 330 nghìn người.

17. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2020 đạt 70%; trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25% trở lên.

18. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm trên 2%.

19. Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia năm 2020 đạt 70%.

20. Tỷ lệ xã, phường, thị trấn, cơ quan đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 2020 đạt 10%.

3. Về môi trường

21. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 52,5%.

22. Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch năm 2020 đạt 95% theo chuẩn mới.

23. Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng  nước hợp vệ sinh năm 2020 đạt 95% theo chuẩn mới.

24. Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn năm 2020 đạt 80%.

25. Tỷ lệ chất thải y tế được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn năm 2020 đạt 100%.

4. Về xây dựng Đảng

26. Bình quân hàng năm kết nạp hơn 7.000 đảng viên mới và có từ 80% tổ chức cơ sở Đảng trở lên kết nạp được đảng viên mới trong năm.

27. Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch - vững mạnh hàng năm đạt 45%(15).

IV. CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM

1. Chương trình phát triển Khu Kinh tế Nghi Sơn, các khu công nghiệp. Điều chỉnh, mở rộng Khu Kinh tế Nghi Sơn lên quy mô 106 nghìn ha, tập trung mọi nguồn lực phát triển thành trung tâm đô thị - công nghiệp và dịch vụ ven biển trọng điểm của cả nước; tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh và của vùng. Cơ bản hoàn thành việc đầu tư các hạng mục kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng, bao gồm khu công nghiệp, khu đô thị dịch vụ và khu nông nghiệp công nghệ cao. Từng bước đầu tư hạ tầng để thúc đẩy phát triển các khu công nghiệp phía Tây (Ngọc Lặc, Bãi Trành, Thạch Quảng). Nhanh chóng lấp đầy và phát huy hiệu quả 4 khu công nghiệp đang hoạt động (Lễ Môn, Tây Bắc ga, Hoàng Long, Bỉm Sơn). Đến năm 2020, Khu Kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp giải quyết việc làm cho khoảng 167 nghìn lao động, trong đó tạo việc làm mới giai đoạn 2015-2020 khoảng 100 nghìn lao động.

2. Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tạo bước chuyển biến căn bản để tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao. Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tạo bước đột phá về tổ chức sản xuất, đột phá về ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đột phá về chất lượng sản phẩm và đột phá về đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn. Quan tâm phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, tạo điều kiện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động khu vực nông thôn. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới; tăng mức đầu tư và lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả, nâng mức thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn gấp 4 lần năm 2014.

3. Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi. Phát huy và khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh để phát triển các ngành kinh tế, trọng tâm là phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến theo hướng bền vững. Huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; tạo cơ hội và điều kiện cho hộ nghèo tự lực vươn lên phát triển kinh tế, tăng thu nhập; cải thiện rõ nét điều kiện sống của người nghèo, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở và tiếp cận thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân miền núi, sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa miền núi với các vùng miền khác trong tỉnh. Phấn đấu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo 5% trở lên, các huyện vùng núi cao giảm 6 - 7%, theo tiêu chí mới.

4. Chương trình phát triển du lịch. Đẩy mạnh các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch; huy động đa dạng các nguồn lực để đầu tư đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng du lịch, nhất là hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, rác thải và hệ thống khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí và các dịch vụ khác. Tạo sự chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động, nâng cao văn hoá, văn minh du lịch. Phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch, gắn với phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh; ưu tiên phát triển các sản phẩm dịch vụ cao cấp và các sản phẩm du lịch đặc trưng, mang thương hiệu Thanh Hóa. Ưu tiên nguồn lực đầu tư để phát triển thị xã Sầm Sơn thành đô thị du lịch quốc gia. Tăng cường hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành phố, các công ty du lịch lữ hành để hình thành các tua du lịch. Phát triển du lịch thành ngành kinh tế chiếm tỷ trọng cao trong kinh tế dịch vụ của tỉnh.

5. Chương trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực. Huy động tối đa các nguồn lực để mở rộng mạng lưới và nâng cao năng lực, chất lượng của các cơ sở đào tạo; phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn phù hợp và cơ cấu hợp lý. Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70% trở lên, đưa nhân lực trở thành một trong những lợi thế quan trọng nhất của tỉnh. Tiếp tục mở rộng quy mô, đa dạng ngành nghề và hình thức đào tạo, gắn với nhu cầu xã hội và định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực của tỉnh; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của khu kinh tế và các khu công nghiệp; phát triển nhanh những ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh, phấn đấu đến năm 2020 trình độ nhân lực của tỉnh đạt khá so với các tỉnh, thành trong cả nước.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về đạo đức, trình độ, năng lực công tác, thực hiện công khai, công bằng trong tuyển dụng, sử dụng cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, đủ năng lực, có bản lĩnh, văn hóa kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Quan tâm bồi dưỡng nhân tài, đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực.

V. CÁC ĐỘT PHÁ TRONG NHIỆM KỲ

1. Phát triển nhanh, đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm các công trình hạ tầng quan trọng, có tính then chốt về giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc... theo hướng hiện đại, trước hết là hạ tầng kỹ thuật Khu Kinh tế Nghi Sơn và Khu Công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng, thành phố Thanh Hóa và các trục giao thông kết nối các vùng kinh tế động lực.

2. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, tạo sự thông thoáng, minh bạch, hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

3. Kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, tạo sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở Đảng và tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.

B. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

I. VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH

1. Đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

1.1- Phát triển nông, lâm, thủy sản toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn; giải quyết hiệu quả vấn đề nông nghiệp, nông dân và xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu tăng trưởng bình quân đạt 2,9%/năm.

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững. Phát triển các cây trồng có giá trị theo hướng tập trung, quy mô lớn gắn với áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ giống, canh tác, cơ giới hóa, quản lý dịch bệnh, tạo ra chuỗi sản xuất hợp lý, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và bảo vệ môi trường. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng giảm diện tích đất trồng lúa, trồng mía sang trồng  rau các loại, ngô, cây ăn quả, cây thức ăn chăn nuôi... có giá trị, hiệu quả cao hơn. Xây dựng Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Lam Sơn - Sao Vàng, khu nông nghiệp công nghệ cao thị trấn Thống Nhất và vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao dọc tuyến đường Hồ Chí Minh để tạo ra sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Phát triển chăn nuôi nông hộ có kiểm soát; khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại tập trung, công nghệ cao, theo chuỗi giá trị; nâng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp lên 45% vào năm 2020. Quy hoạch phát triển các trang trại chăn nuôi ở vùng bán sơn địa, xa khu dân cư nhằm hạn chế tác động của ô nhiễm môi trường. Khai thác thế mạnh để phát triển nhanh đàn bò sữa, bò thịt chất lượng cao; tạo điều kiện thuận lợi để triển khai nhanh các dự án chăn nuôi bò sữa tập trung do Vinamilk và TH True milk đầu tư, bò thịt chất lượng cao do tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đầu tư.

Tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng ổn định diện tích rừng đặc dụng, giảm diện tích rừng phòng hộ, tăng diện tích rừng sản xuất. Đẩy mạnh trồng mới, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc và quản lý rừng. Tăng diện tích rừng trồng các cây gỗ lớn để nâng cao hiệu quả; phát triển vùng luồng thâm canh; tập trung chăm sóc, duy trì diện tích cao su đã trồng, tháo gỡ khó khăn để phát triển cây cao su ở những nơi có điều kiện phù hợp. Chú trọng phát triển lâm sản ngoài gỗ, nghiên cứu phát triển cây dược liệu tại những nơi có điều kiện.

Phát triển thủy sản cả về nuôi trồng, khai thác gắn với chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá; phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản bình quân hằng năm 7,7% trở lên. Phát triển các vùng nuôi thâm canh ứng dụng công nghệ cao; chuyển một phần diện tích đất trũng sang nuôi trồng thủy sản nước ngọt, tập trung phát triển các đối tượng nuôi chủ lực. Hỗ trợ ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu công suất lớn để khai thác xa bờ và cung cấp dịch vụ hậu cần; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong khai thác, bảo quản, chế biến thủy sản. Nâng cao hiệu quả khai thác các cảng cá, bến cá, tạo điều kiện phát triển dịch vụ hậu cần và các đô thị nghề cá.

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản; thực hiện tốt các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác; nghiên cứu xây dựng chính sách của tỉnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; phát triển các hình thức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị giữa nông dân với hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp. Hình thành và phát triển thị trường quyền sử dụng đất, trước hết là đất nông nghiệp. Đẩy mạnh tích tụ và tập trung ruộng đất, coi đây là động lực mới để phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hoá quy mô lớn, thông qua các hình thức: chuyển dịch giữa nông dân với nông dân, thông qua hợp tác xã và các doanh nghiệp (nông dân góp vốn bằng quyền sử dụng đất, doanh nghiệp thuê lại đất của nông dân).

Phát triển kinh tế phải gắn với xây dựng văn hóa nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân; tạo cơ hội cho nông dân được chia sẻ nhiều hơn thành quả, lợi ích từ công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế; quan tâm nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng, bức xúc của nông dân để có chủ trương và biện pháp giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm, thu nhập của nông dân, kiểm soát quá trình di chuyển lực lượng lao động nông thôn, giảm thiểu tình trạng nông dân bỏ quê đi làm ăn xa, xuất cảnh lao động trái pháp luật. Trao quyền chủ động, tự chủ hơn nữa cho chính quyền xã và cộng đồng dân cư ở thôn, bản gắn phát huy dân chủ cơ sở với khuyến khích nông dân nỗ lực vươn lên làm giàu, nâng cao vị thế của giai cấp nông dân.

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực trong xã hội, kết hợp lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án của Nhà nước, của tỉnh để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, phấn đấu đến năm 2020 có trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.

1.2- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và xây dựng, nhất là các ngành công nghiệp có lợi thế, nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh. Phấn đấu tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 18,5%.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, sớm hoàn thành đưa vào hoạt động, làm tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp, nhất là các dự án quy mô lớn như: Lọc hóa dầu Nghi Sơn, xi măng Công Thanh mở rộng, nhiệt điện Nghi Sơn II, thép Nghi Sơn, thủy điện Trung Sơn, Bá Thước I, sản xuất dầu ăn và các sản phẩm chiết xuất từ dầu ăn... Xây dựng chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ theo hướng hiện đại, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, thay thế dần công nghệ cũ, lạc hậu.

Đẩy mạnh thu hút đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, như: sản phẩm sau lọc hoá dầu, sản xuất điện, ô tô, kim loại và các dự án sản xuất sản phẩm mới như: cao su, plastic, cơ khí, thiết bị điện, linh kiện và thiết bị điện tử, tin học, phần mềm tin học. Tiếp tục khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động như: may mặc, giày da ở khu vực nông thôn, miền núi để giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.

Đổi mới công nghệ sản xuất các sản phẩm truyền thống, có khả năng cạnh tranh và có thị trường tốt như: xi măng, gạch, bia, sữa, thủy sản... Duy trì quy mô sản xuất thuốc lá, đá khai thác, đá ốp lát,... trên cơ sở đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả, bảo đảm môi trường và an toàn lao động.

Đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng Khu Kinh tế Nghi Sơn, Khu Công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng và các khu công nghiệp hiện có theo hướng đồng bộ, hiện đại; đồng thời, tranh thủ sức lan tỏa của các dự án lớn để đẩy mạnh thu hút đầu tư. Hình thành các khu công nghiệp: Bãi Trành, Ngọc Lặc, Thạch Quảng. Rà soát quy hoạch cụm công nghiệp, lựa chọn một số cụm công nghiệp ở các huyện có tiềm năng, vị trí thuận lợi để tập trung đầu tư, tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh. Phát triển tiểu-thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn; đẩy mạnh phát triển các nghề truyền thống đã có thương hiệu và thị trường tiêu thụ; du nhập, nhân cấy một số nghề mới có tiềm năng phát triển.

Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư các thiết bị tiên tiến, tiếp cận và làm chủ công nghệ hiện đại trong thi công xây lắp, đảm bảo thực hiện được các dự án quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp; nâng cao chất lượng, thẩm mỹ các công trình kiến trúc. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mạnh thị trường bất động sản, trước hết là thị trường nhà ở xã hội, văn phòng cho thuê, các cao ốc hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phát triển đô thị.

1.3- Phát triển nhanh và đa dạng các ngành, sản phẩm dịch vụ, đưa Thanh Hóa trở thành một trong những trọng điểm về du lịch, vận tải - cảng biển, vận tải đường sông của khu vực Bắc Trung bộ và cả nước. Phấn đấu tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 8,9%.

Thực hiện tái cơ cấu ngành dịch vụ, ưu tiên nguồn lực để phát triển du lịch, cảng biển, vận tải, kho bãi, giáo dục - đào tạo, y tế, thông tin - truyền thông, kinh doanh bất động sản... trở thành các ngành dịch vụ trọng điểm của tỉnh, trong đó chú trọng phát triển các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn.

Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm du lịch có lợi thế như: du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch di sản, du lịch thương mại công vụ, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh; phát triển các tour du lịch kết nối thị xã Sầm Sơn, Khu Kinh tế Nghi Sơn với các khu, điểm du lịch tại thành phố Thanh Hóa và các di tích lịch sử, văn hóa như: Thành Nhà Hồ, Khu di tích Lam Kinh, Đền Bà Triệu, Bến En, Suối cá Cẩm Lương, các khu bảo tồn Xuân Liên, Pù Luông, Pù Hu..., nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch. Đầu tư kết cấu hạ tầng các khu, điểm thuộc địa bàn du lịch trọng điểm. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ, văn hóa trong phục vụ, giao tiếp cho đội ngũ nhân lực ngành du lịch và nhân dân địa phương.

Phát triển đa dạng các loại hình vận tải, kết hợp phát triển đồng bộ, hiệu quả giữa vận tải đường bộ với đường sắt, đường thủy và đường hàng không. Đầu tư hoàn thiện hệ thống Cảng Nghi Sơn theo quy hoạch; đẩy mạnh phát triển dịch vụ cảng biển, vận tải biển, logictics; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để các hãng vận tải biển lớn trong và ngoài nước, các doanh nghiệp logictics nước ngoài có thương hiệu lập trụ sở, mở chi nhánh tại tỉnh. Nâng cao năng lực khai thác của Cảng Hàng không Thọ Xuân, mở thêm các đường bay mới, đáp ứng yêu cầu đi lại, phát triển kinh tế và thu hút đầu tư vào tỉnh.

Phát triển đa dạng các kênh phân phối hàng hoá, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi. Khuyến khích đầu tư hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại tại thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Khu Kinh tế Nghi Sơn và trung tâm các huyện. Xúc tiến hình thành Khu Kinh tế cửa khẩu Na Mèo; đầu tư cơ sở hạ tầng cửa khẩu Tén Tằn, Khẹo. Tiếp tục chuyển đổi hình thức tổ chức, cơ chế quản lý chợ theo mô hình doanh nghiệp, hợp tác xã. Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại để tìm kiếm và mở rộng thị trường. Phát triển các nguồn hàng xuất khẩu mới, quy mô lớn, ổn định, chất lượng cao, có thương hiệu như: điện tử công nghệ, phầm mềm tin học, các sản phẩm sau lọc hoá dầu.

Khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng quy mô và phát triển mạng lưới trên địa bàn tỉnh gắn liền với nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu quả nguồn vốn tín dụng; thúc đẩy thị trường tài chính phát triển, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ thông tin và truyền thông, nhất là dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin; ưu tiên phát triển sản phẩm dịch vụ phần mềm công nghệ thông tin và nội dung số.

1.4- Phát triển doanh nghiệp và xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh.

Tiếp tục thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, thoái vốn Nhà nước và sắp xếp, chuyển đổi chủ sở hữu doanh nghiệp theo lộ trình, đảm bảo công khai, minh bạch. Tập trung phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, nâng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn lên khoảng 15 nghìn, đạt tỷ lệ 41 doanh nghiệp/1 vạn dân; xây dựng một số doanh nghiệp lớn, tạo ra sản phẩm mới, chất lượng cao để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế; khuyến khích phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thủy sản. Đẩy mạnh phát triển hợp tác xã kiểu mới, nhất là hợp tác xã nông nghiệp, tạo điều kiện đẩy mạnh liên kết, hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất. Xây dựng cơ chế khuyến khích hỗ trợ các hộ kinh doanh cá thể chuyển sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.

Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách, dự án hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của Trung ương, của tỉnh. Kiện toàn, đổi mới nội dung, hình thức hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng, làm tốt vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý Nhà nước. Thường xuyên tổ chức đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

1.5- Phát triển đô thị và các vùng kinh tế động lực

Phát triển hệ thống đô thị theo hướng phân bố hợp lý, cân đối giữa các vùng, miền, đảm bảo kết nối với hệ thống đô thị khu vực Bắc Trung bộ và cả nước; kết hợp hài hòa giữa cải tạo, nâng cấp các đô thị hiện có, với xây dựng, phát triển các đô thị mới theo quy hoạch; ưu tiên nguồn lực để đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn và Bỉm Sơn, các đô thị Nghi Sơn, Lam Sơn - Sao Vàng, Ngọc Lặc; phấn đấu đến năm 2020, thành lập mới 37 đô thị, nâng tổng số đô thị toàn tỉnh lên 70 đô thị, gồm: 1 đô thị loại I (thành phố Thanh Hoá), 3 đô thị loại III (Bỉm Sơn, Sầm Sơn, Nghi Sơn), 5 đô thị loại IV (thị trấn Lam Sơn – Sao Vàng, Ngọc Lặc, Rừng Thông, Hà Trung và Quảng Xương).

Tập trung phát triển “tứ giác” kinh tế của tỉnh gồm: Khu Kinh tế Nghi Sơn; thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn; Khu Công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng; Khu Công nghiệp Bỉm Sơn - Thạch Thành. Ưu tiên nguồn lực để đầu tư phát triển nhanh kết cấu hạ tầng Khu Kinh tế Nghi Sơn và Khu Công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng; kết nối đồng bộ kết cấu hạ tầng thành phố Thanh Hóa với thị xã Sầm Sơn; từng bước đầu tư phát triển khu vực Bỉm Sơn - Thạch Thành để mở rộng cơ hội thu hút đầu tư, tạo thành các cực tăng trưởng và sức lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế.

Xác định 4 trục động lực, gồm: Bỉm Sơn – thành phố Thanh Hóa - Nghi Sơn; Sầm Sơn – thành phố Thanh Hóa - Lam Sơn - Sao Vàng; Thạch Quảng - Ngọc Lặc - Lam Sơn - Sao Vàng - Bãi Trành; Quan Sơn - Cẩm Thủy – Vĩnh Lộc - Hà Trung - Nga Sơn.

Đối với trục Bỉm Sơn - thành phố Thanh Hóa - Nghi Sơn, ưu tiên phát triển các khu công nghiệp xanh, sạch theo tuyến Quốc lộ 1A. Mở rộng các tuyến đường ngang nối Quốc lộ 1A với khu vực ven biển, hình thành các khu đô thị du lịch biển, tạo sức lan tỏa cho khu vực ven biển. Hình thành các trung tâm dịch vụ, các cơ sở đào tạo nghề và y tế chất lượng cao.

Đối với trục Sầm Sơn - thành phố Thanh Hóa - Lam Sơn - Sao Vàng, hình thành các khu đô thị tập trung, hiện đại với hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, tạo sức lan tỏa cho các khu vực lân cận. Hình thành các trung tâm đào tạo chất lượng cao, tạo nguồn nhân lực cho phát triển Khu Công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng và khu vực thành phố Thanh Hóa - Sầm Sơn. Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ chất lượng cao như: tài chính - ngân hàng, viễn thông, công nghệ thông tin.

Đối với trục Thạch Quảng - Ngọc Lặc - Lam Sơn - Sao Vàng - Bãi Trành, với hạt nhân là các khu công nghiệp: Thạch Quảng, Ngọc Lặc và Bãi Trành, thu hút các dự án chế biến nông, lâm sản; sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến khoáng sản và các ngành công nghiệp phụ trợ. Hình thành vùng nông nghiệp công nghệ cao; từng bước hình thành các thị trấn, thị tứ, các đô thị dọc đường Hồ Chí Minh.

Đối với trục Quan Sơn - Cẩm Thủy - Vĩnh Lộc - Hà Trung - Nga Sơn, tiếp tục nâng cấp, mở rộng các khu đô thị hiện có, đồng thời phát triển mới các đô thị theo hướng hiện đại. Phát triển mạnh dịch vụ du lịch, nhất là du lịch di sản, du lịch sinh thái. Quan tâm phát triển dịch vụ thương mại; hình thành và phát triển Khu Kinh tế cửa khẩu Na Mèo, làm trung tâm giao dịch, trao đổi hàng hóa với Lào. Hình thành các trang trại chăn nuôi chất lượng cao, quy mô lớn; trồng rừng tập trung, tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tiểu-thủ công nghiệp và sản xuất hàng xuất khẩu.

2. Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng minh bạch, thông thoáng, tạo sức hấp dẫn mới để huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển.

2.1- Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 02-NQ/TU của Tỉnh ủy và các chương trình hành động về cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh; xác định rõ các giải pháp để tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, duy trì các chỉ số: năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, hiệu quả quản trị và hành chính công, hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương trong top 10 cả nước.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, một cửa liên thông; tiếp tục thực hiện đơn giản hoá thủ tục hành chính, giảm bớt đầu mối, mẫu hóa tối đa các hồ sơ, giấy tờ, rút ngắn thời gian giải quyết công việc cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Công khai thủ tục hành chính; xây dựng cơ chế theo dõi, giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính để phòng ngừa, hạn chế tham nhũng, tiêu cực. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính trong thực thi công vụ; xử lý nghiêm, kịp thời những cá nhân có hành vi nhũng nhiễu, thực hiện không đúng quy định; các cơ quan, tổ chức không thực hiện nghiêm việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính. Gắn trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu đơn vị khi để xảy ra các hạn chế, tiêu cực tại đơn vị.

Hiện đại hóa hệ thống trang thiết bị của các cơ quan quản lý Nhà nước; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn ISO vào hoạt động quản lý, điều hành của tất cả các cơ quan hành chính, quản lý Nhà nước theo hướng trở thành chính quyền điện tử.

2.2- Rà soát, bổ sung, xây dựng mới các quy hoạch, cơ chế, chính sách phù hợp với nhiệm vụ tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và Đề án tái cơ cấu kinh tế

gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, các cấp, các ngành tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, cấp huyện, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, đô thị,... theo hướng khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của vùng, địa phương, phù hợp với giai đoạn tới; bảo đảm thống nhất, liên kết giữa các quy hoạch.

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, bảo đảm mối liên kết trong nội bộ vùng, với các vùng trong tỉnh, trong nước và khu vực; trọng tâm là quy hoạch phát triển hệ thống đô thị, quy hoạch chung xây dựng, quy hoạch chi tiết các khu chức năng trong đô thị; quy hoạch chung xây dựng Khu Kinh tế Nghi Sơn mở rộng; quy hoạch tổng thể phát triển giao thông - vận tải. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch ở các cấp, các ngành; công khai tất cả các loại quy hoạch để doanh nghiệp, tổ chức và nhân dân biết, thực hiện và giám sát quá trình thực hiện.

Rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã ban hành cho phù hợp, đồng thời nghiên cứu, xây dựng một số cơ chế, chính sách mới để thúc đẩy sự phát triển trên các lĩnh vực theo hướng thực sự thông thoáng, hấp dẫn, bảo đảm tính khả thi.

2.3- Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

Đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng công tác vận động, xúc tiến đầu tư theo hướng thiết thực, hiệu quả; tăng cường quảng bá, giới thiệu về môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh, đồng thời tranh thủ sức lan tỏa của các dự án lớn đã khởi công xây dựng để đẩy mạnh xúc tiến đầu tư theo hướng cụ thể, chi tiết đến từng dự án, từng nhà đầu tư. Nghiên cứu các đối tác để mời gọi đầu tư, ưu tiên các nhà đầu tư đã có kinh nghiệm đầu tư tại Việt Nam, đặc biệt là các nhà đầu tư đang đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy làm công tác xúc tiến đầu tư.

Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và danh mục dự án ưu tiên đầu tư đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, chủ động xây dựng các dự án cụ thể theo lộ trình, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương để được bố trí kế hoạch vốn triển khai thực hiện.

Rà soát, bổ sung danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi vốn ODA đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục, giảm nghèo; tích cực đấu mối với các bộ, ngành Trung ương, các nhà tài trợ để vận động, thu hút các nguồn vốn ODA, vốn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ.

Thực hiện tái cơ cấu đầu tư công, bố trí nguồn vốn đầu tư tập trung, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên bố trí nguồn vốn Nhà nước cho các công trình quan trọng, có tác động lan tỏa lớn. Đẩy mạnh xã hội hóa, thực hiện đa dạng hoá các hình thức đầu tư; xây dựng danh mục các dự án ưu tiên để kêu gọi, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư theo hình thức xã hội hóa hoặc Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư (BT, BOT, BTO, BOO, BTL, BLT...) và các hình thức đầu tư khác để thu hút các vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

Trên cơ sở các biên bản thỏa thuận hợp tác mà tỉnh đã ký kết với các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài, xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện các cam kết thuộc trách nhiệm của tỉnh, trong đó tập trung thực hiện tốt các cam kết về giải phóng mặt bằng, cấp điện, cấp nước, bảo đảm an ninh trật tự, các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư..., tạo thuận lợi nhất để nhà đầu tư triển khai thực hiện các dự án đã cam kết.

Tranh thủ tối đa nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước để đầu tư kết cấu hạ tầng; thành lập Quỹ đầu tư phát triển của tỉnh, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ tài chính khác nhằm huy động tối đa các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Tăng cường huy động vốn từ quỹ đất, vốn đầu tư theo các chương trình mục tiêu quốc gia. Thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư, của các tổ chức kinh tế trong và nước ngoài, đặc biệt là các nguồn vốn nước ngoài có lãi suất ưu đãi, góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển.

Thực hiện nghiêm các chính sách thuế, động viên hợp lý các nguồn lực; quản lý chặt chẽ thu, chi ngân sách theo quy định, đáp ứng kịp thời thực hiện các nhiệm vụ. Thực hiện nghiêm các giải pháp thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực, trọng tâm là: đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý thu chi ngân sách, quản lý tài sản công, quản lý tài nguyên.

2.4- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, theo hướng hiện đại.

Phát triển đồng bộ hệ thống giao thông, bảo đảm được sự kết nối giữa các tuyến đường bộ với hệ thống đường sắt, đường thủy, đường biển, đường hàng không, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Ưu tiên đầu tư nâng cấp, xây dựng mới các tuyến giao thông trục chính trong khu kinh tế, các khu công nghiệp, các tuyến giao thông kết nối các đô thị của tỉnh với Cảng Nghi Sơn, Cảng Hàng không Thọ Xuân; tuyến đường bộ ven biển từ huyện Nga Sơn đến huyện Tĩnh Gia; đường từ phía Nam tỉnh Ninh Bình đi Cảng Hàng không Thọ Xuân; tuyến đường nối Khu di tích Lam Kinh với Thành Nhà Hồ; các cầu lớn như: cầu Cẩm Lương, cầu Hoằng Khánh, cầu Cẩm Vân, cầu Thiệu Khánh... Đẩy nhanh tiến độ thực hiện, sớm hoàn thành đại lộ Nam sông Mã, đường từ ngã ba Voi đi Sầm Sơn, đường từ Cảng Hàng không Thọ Xuân đi Khu Kinh tế Nghi Sơn; đường vành đai phía Tây, đường vành đai Đông Tây thành phố Thanh Hóa, tuyến nối các huyện phía Tây. Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, các nhà tài trợ để khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc Bắc-Nam đoạn qua Thanh Hóa; cải tạo, nâng cấp các tuyến Quốc lộ 47B, 45, 10, 15A, 217. Cải tạo, nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn bảo đảm đến năm 2020, có 100% đường huyện, 85% đường xã được cứng hóa mặt; đầu tư xây dựng hệ thống cầu treo trên địa bàn các huyện miền núi.

Tiếp tục đầu tư Cảng Hàng không Thọ Xuân theo hướng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm điều kiện nâng cấp thành cảng hàng không quốc tế và dự bị cho Cảng hàng không Nội Bài. Xây dựng hệ thống cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng để sớm hoàn chỉnh cụm cảng nước sâu Nghi Sơn theo quy hoạch, bảo đảm công suất đạt 40 - 44 triệu tấn/năm. Nâng cao năng lực khai thác Cảng Lễ Môn, xây dựng mới cảng Quảng Châu. Xây dựng hệ thống bến thủy nội địa như: Hới, Hàm Rồng, Đò Lèn, Cầu Tào, Thiệu Khánh, Kiểu... bảo đảm phục vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách.

Xây dựng hệ thống thủy lợi sông Lèn, thủy lợi vùng 3 Nông Cống; cải tạo, nâng cấp các hệ thống thủy lợi: tưới Bái Thượng, hồ sông Mực, Yên Mỹ, Trạm bơm Bắc sông Mã; tiếp tục đầu tư nâng cấp, cứng hóa hệ thống đê sông, đê biển; hệ thống tưới, tiêu nội đồng và các hồ đập. Hoàn thành hệ thống công trình thủy lợi hồ chứa nước Cửa Đạt, hệ thống tưới huyện Tĩnh Gia, tiêu kênh Than, nạo vét sông Lạch Trường, tiêu thoát lũ sông Nhơm, hệ thống tưới mía vùng thâm canh bằng công nghệ cao,... bảo đảm nâng cao năng lực phục vụ sản xuất và ứng phó với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nâng cấp, mở rộng cảng cá Lạch Bạng, Lạch Hới, Quảng Nham, khu neo đậu tránh trú bão cửa sông Lý; hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản ở các huyện ven biển.

Tiếp tục cải tạo, nâng cấp lưới điện phục vụ phát triển của Khu Kinh tế Nghi Sơn, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; cải tạo, nâng cấp lưới điện thành phố Thanh Hóa, các đô thị. Hoàn thành cải tạo, nâng cấp lưới điện áp 15KV lên 22KV; xây dựng mới 7 lộ đường dây 22KV từ trạm biến áp 110KV Núi I để cấp điện cho các trạm biến áp phụ tải; cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới lưới điện khu vực nông thôn, trong đó ưu tiên cho các thôn, bản chưa có điện, bảo đảm 100% dân số được sử dụng điện. Đầu tư nâng tổng công suất các nhà máy cấp nước đạt 452 nghìn m3/ngày đêm vào năm 2020; cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước và các công trình thu gom, xử lý nước thải cho thành phố và các thị xã, thị trấn, khu kinh tế và khu công nghiệp; hoàn thành xây dựng hệ thống thoát nước thải và các trạm xử lý cho các khu công nghiệp tập trung, bảo đảm 100% nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường.

Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và thực hiện có hiệu quả mạng truyền số liệu chuyên dùng tại các cơ quan Đảng, Nhà nước; kết nối băng thông rộng, chất lượng cao đến tất cả các xã, phường, thị trấn và các cơ sở giáo dục. Xây dựng khu công nghệ thông tin tập trung (phần mềm, nội dung số) tại Khu Đông Nam thành phố Thanh Hóa.

Tiếp tục thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên. Ưu tiên đầu tư hoàn thành các cơ sở đào tạo đại học; nâng cấp cơ sở vật chất của một số trường cao đẳng nghề, bảo đảm điều kiện đào tạo các nghề trọng điểm đạt chuẩn quốc gia và khu vực. Tập trung đầu tư hiện đại hoá Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Phụ sản, Bệnh viện Nhi; nâng cấp các bệnh viện, đến năm 2020 có 90% bệnh viện tuyến huyện đạt tiêu chuẩn hạng II; cải tạo, nâng cấp các trạm y tế xã. Tu bổ, tôn tạo các công trình văn hóa lịch sử; khởi công xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao trọng điểm như: Nhà hát tỉnh, Bảo tàng tỉnh, Khu liên hợp thể thao... Cải tạo, nâng cấp các trung tâm thể thao cấp huyện, bảo đảm 100% các huyện có sân vận động, nhà thi đấu đa năng, 100% xã, phường có sân bãi hoặc khu tập luyện thể dục thể thao.

3. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên, khoáng sản; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án khai thác và chế biến sâu khoáng sản; tăng cường kiểm tra hoạt động khai thác, tập kết, vận chuyển, chế biến khoáng sản, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Hoàn thành công tác đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai toàn tỉnh. Tăng cường quản lý tài nguyên nước; đầu tư hệ thống xử lý nước thải thành phố Thanh Hóa và Khu Kinh tế Nghi Sơn.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường tại các nhà máy, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, đô thị, các bãi chứa rác thải và trên các dòng sông; xử lý, dừng hoạt động khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân và trách nhiệm của toàn xã hội trong bảo vệ môi trường; xây dựng cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư các dự án bảo vệ môi trường.

Xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, thân thiện với môi trường, đảm bảo phát triển bền vững. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả kế hoạch hành động về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai và giám sát biến đổi khí hậu, phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.

4. Đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học - công nghệ, văn hóa - xã hội; phấn đấu trở thành một trong những trung tâm về văn hóa, giáo dục – đào tạo, y tế, thể dục thể thao của khu vực Bắc Trung bộ và cả nước.

4.1- Đẩy mạnh tiếp nhận và chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống, phục vụ hiệu quả cho thực hiện tái cơ cấu kinh tế. Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống các tổ chức khoa học công nghệ, các trung tâm nghiên cứu ở các ngành, các trường đại học, cao đẳng; liên kết với các trường đại học lớn để thành lập phân hiệu tại Thanh Hóa, trước mắt thành lập Phân hiệu Học viện Nông nghiệp; phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ và ban hành chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào phát triển khoa học công nghệ; đầu tư, nâng cấp một số phòng thí nghiệm, thử nghiệm thuộc các trường đại học, cao đẳng đạt tiêu chuẩn quốc gia và các nước trong khu vực. Đẩy mạnh hợp tác phát triển khoa học công nghệ với các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức...; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

4.2- Đổi mới phương pháp giảng dạy, tuyển sinh và đánh giá chất lượng của các cấp học và trình độ đào tạo; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn, khắc phục chênh lệch chất lượng giáo dục giữa các vùng miền. Ổn định quy mô học sinh các bậc học phổ thông, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hoá, xã hội hoá; phấn đấu đưa Thanh Hoá trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục phổ thông; xây dựng Trường THPT Chuyên Lam Sơn thành trường chuyên trọng điểm quốc gia.

Phát triển các cơ sở giáo dục và đào tạo phù hợp với quy hoạch điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề của tỉnh đến năm 2020. Đầu tư xây dựng một số khoa của Trường Đại học Hồng Đức đạt chất lượng cao. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách đào tạo nguồn nhân lực mà tỉnh đã ban hành; ưu tiên đào tạo lao động cho một số ngành kinh tế trọng điểm phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp tại KKT Nghi Sơn và các KCN. Nghiên cứu, ban hành các chính sách thu hút nhân lực trình độ cao về làm việc tại khu kinh tế và các khu công nghiệp. Tăng tỷ lệ đầu tư hàng năm từ ngân sách tỉnh, đồng thời có cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho giáo dục - đào tạo, dạy nghề.

4.3- Phát triển hệ thống y tế theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đẩy mạnh chuyển giao, phân tuyến kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến huyện và mở rộng điều trị ngoại trú để giảm quá tải cho bệnh viện tuyến tỉnh. Thành lập các khoa khám bệnh quốc tế trong một số bệnh viện của tỉnh và các bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Trung ương. Tập trung xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Phụ sản, Bệnh viện Nhi trở thành các trung tâm khám, chữa bệnh chất lượng cao của khu vực Bắc Trung bộ, trong đó phát triển một số chuyên khoa sâu, đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh đạt tiêu chuẩn khu vực Đông Nam Á. Tăng cường nhân lực y tế trình độ cao cho tuyến cơ sở. Quản lý chặt chẽ hoạt động hành nghề y dược tư nhân. Tăng cường công tác y tế dự phòng theo phương châm tích cực, đủ khả năng dự báo, kiểm soát, chủ động phòng chống dịch bệnh, không để dịch lớn xảy ra. Tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình; phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 13% vào năm 2020. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích đầu tư các bệnh viện tư nhân theo mô hình bệnh viện khách sạn, cung cấp dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe chất lượng cao.

4.4- Phát triển văn hóa, con người Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, trọng tâm là xây dựng hình ảnh tốt đẹp của đất Thanh Hoá và người Thanh Hóa trong lòng bạn bè trong nước và quốc tế. Quan tâm bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số; khôi phục, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể; khuyến khích tự do sáng tác nhằm tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị, xứng đáng với tầm vóc và bề dày lịch sử, văn hóa của quê hương. Trùng tu, tôn tạo, phục hồi các di tích lịch sử, văn hóa. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá gắn với xây dựng nông thôn mới. Nâng cao chất lượng hoạt động phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản; tăng thời lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc. Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng; tiếp tục phát triển thể thao thành tích cao, nhất là các bộ môn mà tỉnh có thế mạnh như: điền kinh, bơi lội, võ vật; đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho thể thao.

4.5- Nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động; phát triển thị trường lao động gắn với nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm giới thiệu việc làm. Triển khai thực hiện tốt các chương trình giảm nghèo; lồng ghép có hiệu quả nguồn vốn của các chương trình giảm nghèo để đầu tư, hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, chính sách người có công.

Tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, khuyến khích tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp; phấn đấu đến năm 2020, có ít nhất 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Đẩy mạnh phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, quan tâm hỗ trợ hộ cận nghèo để có điều kiện tham gia bảo hiểm y tế.

5. Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.

Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân vững mạnh; tăng cường củng cố tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ tỉnh, huyện; chủ động đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị.

Nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương (quân sự, công an, biên phòng), xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng công an xã, lực lượng làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự ở cơ sở vững mạnh. Coi trọng công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh, hoàn thành kế hoạch tuyển quân, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập. Tăng cường đấu tranh trấn áp tội phạm; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, kiềm chế, không để gia tăng tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm, tội phạm buôn bán trái phép chất ma túy; đấu tranh đẩy lùi các tệ nạn xã hội; thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông.

Kết hợp chặt chẽ giữa củng cố quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong từng quy hoạch, kế hoạch, chú trọng các khu kinh tế, tuyến biên giới, biển đảo và chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn. Tăng cường sự phối hợp giữa lực lượng quân sự, công an, biên phòng trong nắm và quản lý tình hình, tham mưu giải quyết kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ hoặc xảy ra “điểm nóng”.

Tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật. Thực hiện  Chỉ thị số 15-CT/T.Ư của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật; đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội.

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Tăng cường quản lý Nhà nước về tôn giáo, từng bước giải quyết triệt để các hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay tại cơ sở, không để khiếu kiện đông người, kéo dài.

Tăng cường công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân. Đổi mới phương thức tuyên truyền, thông tin đối ngoại nhằm quảng bá hình ảnh Thanh Hóa đối với bạn bè trong nước, quốc tế và kiều bào ở nước ngoài; chủ động ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế. Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại và tăng cường hợp tác với các tỉnh, thành phố trong và ngoài nước; đánh giá kết quả thực hiện thoả thuận hợp tác với tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng (Lào) trong giai đoạn vừa qua và triển khai ký kết các thoả thuận hợp tác giai đoạn 2016 - 2020; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận hợp tác với thành phố Seongnam (Hàn Quốc) giai đoạn 2014 - 2018 và tỉnh Mittelsachen (CHLB Đức) giai đoạn 2014 - 2020. Củng cố và nâng tầm quan hệ hợp tác với Đại sứ quán các nước tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế, các tổ chức tài chính lớn và các tổ chức phi chính phủ để tranh thủ sự tư vấn, hỗ trợ, kêu gọi các nguồn vốn ODA đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vào địa bàn tỉnh.

II. VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, xây dựng đảng bộ trong sạch - vững mạnh

1.1- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân cả trong nhận thức và hành động.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, cách thức giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XVII). Tăng cường công tác giáo dục truyền thống cách mạng, văn hóa, lịch sử của quê hương, kết hợp với làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân Thanh Hóa trước sự nghiệp xây dựng quê hương thành tỉnh tiên tiến.

Đổi mới việc ban hành và triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy, tổ chức Đảng gắn với xây dựng chương trình, kế hoạch, cơ chế, chính sách và phân công trách nhiệm, thời gian hoàn thành cho các cấp, các ngành để đảm bảo thực hiện đạt kết quả. Tăng cường tổng kết thực tiễn, gắn với nghiên cứu lý luận, trên cơ sở đó phổ biến sâu rộng những kinh nghiệm hay, cách làm mới, các điển hình tiên tiến; qua đó tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, làm sáng tỏ và giải đáp thỏa đáng những vấn đề thực tiễn đặt ra.

Các tổ chức Đảng từ tỉnh đến chi bộ phải nắm vững tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đề cao trách nhiệm gương mẫu của cấp ủy, cá nhân người đứng đầu trong việc nói và làm, qua đó lắng nghe tâm tư, nguyện vọng để giải đáp kịp thời, thỏa đáng những vướng mắc về tư tưởng; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; chủ động đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái, không để xảy ra hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ; phát huy vai trò của đội ngũ phóng viên, văn nghệ sỹ trở thành lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Quan tâm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, nhất là cấp cơ sở. Tiếp tục thực hiện Kết luận số 21-KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XVII) về nâng cao chất lượng toàn diện các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, phấn đấu đến năm 2020 tất cả các đơn vị đều đạt chuẩn. Xây dựng Trường Chính trị tỉnh trở thành đơn vị kiểu mẫu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh và khu vực.

1.2- Tập trung xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến.

Tiếp tục sắp xếp các cơ quan trong hệ thống chính trị theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 7 khoá XI, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến về chất lượng hoạt động của các tổ chức, cơ quan, đơn vị. Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình các tổ chức chính trị - xã hội trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phù hợp và gắn với sự lãnh đạo của tổ chức Đảng; rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy Đảng, chính quyền, đơn vị sự nghiệp theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 39-NQ/T.Ư, ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình cơ sở Đảng, nhất là tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, để mỗi tổ chức cơ sở Đảng phải thực sự là hạt nhân chính trị, giữ vai trò lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh ở cơ sở. Tiếp tục tăng cường cán bộ, chiến sỹ bộ đội biên phòng làm phó bí thư đảng ủy các xã biên giới để tham gia xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở các địa phương.

Phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ; thực hiện nghiêm túc quy định chất vấn trong Đảng. Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất và trình độ nhận thức về mọi mặt cho đảng viên, phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng viên trong công cuộc đổi mới. Tăng cường công tác quản lý đảng viên. Làm tốt công tác tạo nguồn để lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp quần chung ưu tú vào Đảng, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào theo đạo, vùng dân tộc, trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XVII) về “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu Thanh Hóa thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020”, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và phong cách làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh. Đổi mới mạnh mẽ các khâu trong công tác cán bộ đảm bảo phát huy dân chủ, công khai, minh bạch; tiếp tục thực hiện chủ trương chuẩn hóa, trẻ hóa, thực tiễn hóa đội ngũ cán bộ.

Nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý; mở rộng dân chủ và đối tượng tham gia quy hoạch, đảm bảo tính liên thông ở tất cả các ngành, các cấp từ tỉnh đến cơ sở; quan tâm quy hoạch và tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc; gắn quy hoạch với đào đạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ. Đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cấp cơ sở. Xây dựng cơ chế phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ có trình độ cao trong các cơ quan của hệ thống chính trị; thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp. Lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao làm thước đo để đánh giá cán bộ; đề cao vai trò của người đứng đầu trong việc nhận xét, đánh giá cán bộ; thực hiện nghiêm túc, thiết thực việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý theo quy định.

Mở rộng đối tượng, phạm vi, tăng cường công khai, dân chủ trong thực hiện bổ nhiệm cán bộ. Thực hiện điều động, luân chuyển cán bộ theo quy trình chặt chẽ và có chế độ, chính sách phù hợp. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ chuyên môn không phải là người địa phương; bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn ở những nơi có điều kiện. Quản lý chặt chẽ đầu vào và thực hiện việc thi tuyển công chức khối Đảng, đoàn thể và chính quyền đúng quy định. Thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

1.3- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức Đảng.

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu về công tác kiểm tra, giám sát, để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Đổi mới, tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ. Triển khai thực hiện toàn diện các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát một số lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm để phòng ngừa. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống.

Chủ động phát hiện và tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý. Đổi mới quy trình, phương pháp kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng. Nâng cao chất lượng phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng giữa ủy ban kiểm tra với các tổ chức Đảng và cơ quan, đơn vị liên quan; gắn công tác kiểm tra, giám sát với công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức cán bộ; thực hiện tốt việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Đảng.

Quan tâm kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp, đủ số lượng, nâng cao chất lượng, tinh thông về nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức trong sáng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

1.4- Tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới.

Thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác vận động quần chúng, công tác dân tộc và tôn giáo; xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân. Các cấp ủy Đảng phải xác định rõ công tác dân vận là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và cả hệ thống chính trị; thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong việc đối thoại, lắng nghe ý kiến, giải quyết những khó khăn của nhân dân; nghiên cứu ban hành quy định để nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của cấp ủy, chính quyền, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Hệ thống dân vận phải sâu sát cơ sở, chú trọng nắm bắt tình hình nhân dân để chủ động

xây dựng nội dung, phương pháp dân vận, nâng cao tính thuyết phục, vận động nhân dân. Tiếp tục triển khai sâu rộng, hiệu quả phong trào “Dân vận khéo” trong đời sống xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ và xây dựng cơ sở.

1.5- Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các giải pháp thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Chỉ thị 19-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XVII) và Chương trình hành động của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và tích cực tham gia phòng chống tham nhũng, lãng phí; chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng ngay trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thực hiện công khai, minh bạch các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công và tài sản công; kê khai tài sản của cán bộ, công chức theo đúng quy định; kịp thời phát hiện những thiếu sót, sơ hở trong cơ chế, chính sách để sửa đổi, bổ sung; tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí. Phát huy mạnh mẽ vai trò của chi bộ đảng, MTTQ, các đoàn thể, các cơ quan truyền thông của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với tham nhũng, lãng phí.

1.6- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) và Chỉ thị số 03-CT/T.Ư của Bộ Chính trị.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải tự giác thực hiện khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế đã được chỉ ra, gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện trách nhiệm nêu gương theo quy định. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp về chính trị tư tưởng, tổ chức cán bộ, kiểm tra, giám sát, quản lý Nhà nước, xử lý pháp luật... để kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo các nội dung của Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) gắn với kiểm điểm hằng năm; tăng cường nhận diện sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên để triển khai các biện pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả, tạo sự thống nhất trong đảng bộ, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng; phát huy tinh thần trách nhiệm, vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị.

1.7- Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng.

Rà soát, bổ sung, sửa đổi quy chế làm việc của cấp ủy và triển khai thực hiện nghiêm túc, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo. Đổi mới mạnh mẽ phong cách, lề lối, nâng cao hiệu quả làm việc của các cấp ủy và các cơ quan tham mưu; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng; phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể cấp ủy đi đôi với tăng cường vai trò, sự chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của cá nhân người đứng đầu. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy, tổ chức Đảng; chuyển mạnh sang giám sát các tập thể và cá nhân trong việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy. Phát huy vai trò của các cấp ủy, tổ chức Đảng, cấp ủy viên, đảng viên trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, MTTQ và các đoàn thể; tạo điều kiện cho nhân dân được tham gia vào sự lãnh đạo của Đảng, nhất là việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, nghị quyết liên quan trực tiếp đến người dân.

2. Tiếp tục đổi mới hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và hội đồng nhân dân các cấp; nâng cao hiệu lực quản lý, hiệu quả chỉ đạo, điều hành của ủy ban nhân dân các cấp.

- Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực hoạt động, dành nhiều tâm sức để nắm bắt các vấn đề thực tiễn sinh động của tỉnh, tập hợp trí tuệ của nhân dân để đóng góp tích cực cho Quốc hội trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và quyết định các chính sách lớn thuộc thẩm quyền của Quốc hội; giữ mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể để thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát của mình.

- Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND các cấp, phát huy hơn nữa vai trò cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, thực hiện tốt chức năng giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ở địa phương. Tăng cường tổ chức các kỳ họp theo chuyên đề, nhất là trong việc xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao trách nhiệm của đại biểu HĐND, nhất là chất lượng hoạt động chất vấn tại các kỳ họp. Tăng cường hoạt động giám sát đối với việc thực hiện nghị quyết của HĐND, thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực thi chính sách pháp luật ở địa phương; việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân và các kiến nghị của cử tri.

- Nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành của UBND các cấp, tiếp tục thực hiện phân cấp hợp lý cho UBND cấp huyện, cấp xã gắn với nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc ban hành và triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính; đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho nhân dân, doanh nghiệp tiếp cận các cơ chế, chính sách để phát triển sản xuất, kinh doanh. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; triển khai thực hiện Đề án xác định vị trí, việc làm của cán bộ, công chức, viên chức; có cơ chế khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ.

3. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ và các đoàn thể, các hội quần chúng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể, tập hợp đông đảo đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân. Thực hiện phương châm đưa các phong trào thi đua, các cuộc vận động đến từng khu dân cư, hộ gia đình, tạo sự đồng thuận đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến. Phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền; tham gia giải quyết hiệu quả các vấn đề bức xúc ở cơ sở, khắc phục hiện tượng thụ động, né tránh, ngại va chạm. Coi trọng việc quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ mặt trận và các đoàn thể, khắc phục tình trạng tùy tiện, gượng ép trong bố trí cán bộ làm công tác mặt trận và đoàn thể.

Phát huy dân chủ trong xã hội, tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo; lấy đoàn kết trong đảng bộ, chính quyền là hạt nhân, là cơ sở quan trọng để xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả số lượng và chất lượng, phát huy mạnh mẽ vai trò của giai cấp công nhân trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nâng cao nhận thức, tư duy của nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; tạo điều kiện cho nông dân được tiếp cận các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nghèo bền vững. Đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của đoàn thanh niên và hội liên hiệp thanh niên; quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống đẹp cho thanh niên; tạo điều kiện cho thanh niên học tập, rèn luyện để trưởng thành, trở thành lớp người kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng của đảng bộ. Nâng cao trình độ, đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực, phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội. Phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của cựu chiến binh trong giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước cho thế hệ trẻ, tham gia xây dựng cơ sở và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Động viên, khơi dậy tiềm năng, trách nhiệm xã hội của doanh nhân trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

***

Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh ta bước vào thời kỳ 2015 - 2020 với những thời cơ, vận hội lớn; đồng thời cũng đứng trước những khó khăn, thách thức mới. Với truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết và sáng tạo, với những thành tựu và kinh nghiệm của gần 30 năm đổi mới, chúng ta quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, xây dựng Thanh Hoá trở thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020, đến năm 2025 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, phấn đấu trở thành tỉnh kiểu mẫu như Bác Hồ kính yêu, Trung ương Đảng, Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta hằng mong muốn.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHOÁ XVII

(1) Theo phương pháp mới (GRDP) do Tổng cục Thống kê công bố thì tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011 - 2015 của tỉnh ước đạt 8,2%.

(2) (3) (4) (5)  Theo giá so sánh năm 1994.

(6) Số doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng giảm từ 88,2% năm 2010 xuống 80% năm 2015; số doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký từ 10 - 100 tỷ đồng tăng từ 10,5% lên 17,7%; doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký từ 100 tỷ đồng trở lên tăng từ 1,2% lên 2,3%.

(7) Theo tiêu chí quy định tại Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13-4-2011 của Bộ NN&PTNT, năm 2011, toàn tỉnh có 374 trang trại (theo Thông tư  liên bộ 69/2002, năm 2010 số trang trại toàn tỉnh là 4.146).

(8) Tỷ trọng vùng ven biển tăng từ 27,1% năm 2010 lên 31,6% năm 2015; vùng đồng bằng giảm từ 56,6% xuống 54,5%; vùng miền núi giảm từ 16,3% xuống 13,9%.

(9) Trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, công ty TNHH chiếm 59%, công ty cổ phần 28%, doanh nghiệp tư nhân 13%.

(10) Năm 2015 so với năm 2010: tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản giảm từ 59,1% xuống 47,9%; ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 19,1% lên 27,5%, dịch vụ tăng từ 21,8% lên 24,6%).

(11) Số liệu điều tra hộ nghèo và cận nghèo toàn tỉnh năm 2014, như sau: tổng số hộ toàn tỉnh là 942.251 hộ, trong đó hộ nghèo là 93.384, chiếm tỷ lệ 9,91%; hộ cận nghèo 91.951, chiếm tỷ lệ 9,76%.

(12) Số liệu điều tra hộ nghèo và cận nghèo toàn tỉnh năm 2014, khu vực miền núi có 220.987 hộ, trong đó số hộ nghèo 40.035, chiếm tỷ lệ 18,12%; hộ cận nghèo 32.931, chiếm tỷ lệ 14,9%; huyện Mường Lát có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất 29,91%.

(13) Có 9 chỉ tiêu chưa hoàn thành là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm; Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp – XD; Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ; Cơ cấu kinh tế năm 2015; GDP bình quân đầu người năm 2015; Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội; Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch; Tỷ lệ TCCS Đảng TSVM và tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng yếu kém; Tỷ lệ TCCS Đảng kết nạp đảng viên mới.

(14) Theo phương pháp tính GRDP thì ở giai đoạn 2010-2015, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh ta là 8,2%, chỉ tiêu tăng trưởng bình quân của giai đoạn 2015-2020 là 12%/năm trở lên sẽ cao hơn giai đoạn trước là 3,8%/năm.

(15) Theo Hướng dẫn số 27-HD/BTCT.Ư ngày 25-9-2014 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng.