Liên kết website

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Thanh Hoá - Địa chỉ: 17 Hạc Thành - Ba đình - Thành phố Thanh Hoá. Số ĐT: (0373) 853.656-  3720.885   Fax: 037.3720885


Kết quả ứng dụng của các công trình đoạt giải thưởng sáng tạo khcn Việt Nam trên địa bàn Thanh Hoá

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, việc không ngừng sáng tạo kỹ thuật và đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống là động lực trực tiếp của sự phát triển. Đặc biệt, tỉnh Thanh Hoá có 27 huyện, thị xã, thành phố. Trong đó có 11 huyện miền núi, 6 huyện vùng biển, 7 huyện trung du, đồng bằng và 3 thị xã. Với 2.176 trường học 2 trường đại học, 92 cơ sở đào tạo nghề, trên 95.900 người có trình độ từ cao đẳng trở lên đây là lực lượng tham gia tích cực vào chương trình xã hội hóa hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, khoa học và công nghệ của tỉnh. Những thành quả ứng dụng của khoa học và công nghệ trong những năm qua phần nào đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân, trong đó có các công trình đoạt Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ hàng năm. Những công trình này có vai trò quan trọng trong quá trình  phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh nhà và nâng cao đời sống người dân ngày càng rõ nét hơn.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hoá phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và các sở, ban, ngành liên quan tổ chức Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam tại Thanh Hoá, công tác tổ chức Giải thưởng luôn được đổi mới, số lượng các công trình tham gia dự giải hàng năm đều tăng, chỉ tính trong ba năm 2010-2013 đã có 35 công trình tham gia dự Giải, trong đó có 7 công trình đoạt Giải toàn quốc gồm: một giải Nhất, một giải Nhì, một giải Ba và bốn giải Khuyến khích, các công trình đoạt giải chủ yếu ở các lĩnh vực: Sinh học phục vụ sản xuất và đời sống, Bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên, Cơ khí tự động hoá, hiện các công trình đã và đang được ứng dụng chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi, nhân rộng, sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh, góp phần nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa của tỉnh trên thị trường. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin giới thiệu một số công trình tiêu biểu đã và đang có nhiều ứng dụng trong sản xuất và đời sống góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho các đơn vị áp dụng.

Công trình "Nghiên cứu sử dụng các hợp chất chiết xuất từ thực vật, làm hạn chế quá trình xâm hại của côn trùng, bảo quản nông sản sau thu hoạch" của nhóm tác giả  Nguyễn Văn Sơn, Hoàng Xuân Nghĩa, Đỗ Văn Hùng, Cao Thị Hạnh, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh đoạt giải Nhì  toàn quốc năm 2010. Công trình dựa trên đặc điểm của hầu hết các loại động vật là cùng có cơ quan khứu giác để phát hiện và phân biệt các loại mùi khác nhau. Có mùi "hấp dẫn" với loài này nhưng lại rất "khó chịu" với loài khác v.v. Theo đó, tác giả và các cộng sự đã nghiên cứu, lựa chọn được hỗn hợp tinh dầu Long Não (Camphor esentiel oil) - dịch chiết (ép) toàn phần của cây Đinh Lăng (Policias fruticosa L.)- tạm gọi là dung dịch BQ01-10. Chế phẩm BQ01-10 không phải để tiêu diệt côn trùng như là một loại thuốc trừ sâu. Đặc trưng Hoá - Sinh của nó được xác định là có tính "xua đuổi" hay tính "tương kị" với nhiều loại côn trùng, ví như mùi của những viên băng phiến để trong các tủ đựng quần áo của gia đình vậy. Chính khoảng thời gian đó, do côn trùng chỉ tiếp cận ở mức độ thấp nên đã kéo theo các yếu tố kinh tế - kỹ thuật có liên quan như:  Giảm được lượng thuốc trừ sâu phải sử dụng để tiêu diệt chúng, giảm được hao hụt về khối lượng, phẩm cấp và chất lượng của sản phẩm sau bảo quản...đặc biệt là vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Với phương pháp sử dụng  phun dung dịch dạng sương mù lên bề mặt khối hàng đã được cách ly, các vách tường, sàn kho, cửa ra vào, ô thoáng v.v.  Lượng dùng từ 1,0 đến 1,2 lít/100 m2.  Thời gian duy trì hiệu lực của chế phẩm từ 3 đến 4 tháng. Việc nghiên cứu - ứng dụng tính chất này để hạn chế "côn trùng hại nông sản sau thu hoạch" đã đánh dấu bước phát triển mới trong chuyên ngành Bảo vệ thực vật và Bảo quản nông sản,  phù hợp với chiến lược sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn và bền vững. Hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình được thể hiện qua các hợp đồng kinh tế với các đơn vị trong tỉnh, đến năm 2013 đã có 32 hợp đồng được ký kết với tổng kinh phí là 3.654.264.722 đồng.

Để công trình tiếp tục phát huy, nhân rộng trên địa bàn tỉnh năm 2013, được sự giúp đỡ của Sở Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh Thanh Hóa đã đồng ý hỗ trợ kinh phí để Chủ nhiệm công trình đầu tư sản xuất thử nghiệm sản phẩm KH-CN này nhằm tiếp tục hoàn thiện, phát triển và mở rộng phạm vi áp dụng của nó tại 10 xã thuộc các huyện Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hoằng Hóa, Lang Chánh, Cẩm Thủy và Cục dự trữ nhà nước khu vực Thanh Hóa.

Công trình "Nghiên cứu xây dựng quy trình bảo quản thóc đóng bao trong môi trường áp suất thấp" của nhóm tác giả  Ths. Nguyễn Văn Quý; CN. Lê Đăng Bình; CN. Hà Thị Lê; KS. Nguyễn Thị Thanh Huyền; CN. Nguyễn Văn Chung; CN Lê Bá Long, thuộc đơn vị Cục Dự trữ Nhà nước Khu vực Thanh Hóa, đoạt giải Nhất Giải thưởng Sáng tạo Khoa học Công nghệ Việt Nam năm 2013.  Công trình đã tập trung nghiên cứu - ứng dụng về bảo quản nông sản, duy trì được thời gian bảo quản dài ngày mà chất lượng thóc xuất ra tốt hơn thóc bảo quản đổ rời trong môi trường áp suất thấp có cùng thời gian; tỷ lệ tạp chất tăng rất ít so với ban đầu khi nhập kho; tỷ lệ hao hụt giảm, không còn xảy ra hiện tượng đọng sương trong quá trình bảo quản, nâng cao năng lực bảo quản hạn chế mức hao hụt, kéo dài thời gian bảo quản đến 24 tháng không sử dụng hoá chất trong quá trình bảo quản.

Duy trì được chất lượng thóc tốt, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đảm bảo sức khỏe cho những người trực tiếp làm công tác bảo quản; giảm tỷ lệ hao hụt (giảm 0,13% đối với loại hình kho Cuốn, 0,11% đối với loại hình kho Tiệp so với phương pháp bảo quản thóc đổ rời trong môi trường áp suất thấp); thuận tiện trong quá trình nhập, xuất, bảo quản; tiết kiệm kinh phí.

Từ giải pháp trên Cục Dự trữ Nhà nước tỉnh Thanh Hoá thực hiện theo phương pháp bảo quản thóc đóng bao trong môi trường áp suất thấp từ năm 2010 đến 2013, với chu kỳ bảo quản 30 tháng đối với kho Cuốn làm lợi 15.735 đồng/tấn, đối với kho Tiệp làm lợi 16.128,5 đồng/tấn so với phương pháp bảo quản đổ rời trong môi trường áp suất thấp, sau khi triển khai áp dụng giải pháp kỹ thuật tại Cục dự trữ Nhà nước khu vực Thanh Hoá năm 2013 Cục dự trữ xuất 12.000 tấn thóc với định mức hao hụt cho phép là 0,19% x 12.000 tấn = 22,8 tấn, với giá xuất kho là 5.326đ/kg Cục dự trữ Nhà nước đã làm lợi 121.432.800đ. Ngoài ra với giải pháp mới này còn giảm được 2,5 lao động tương đương với việc giảm chi phí của ngân sách 278.375.000đ/ năm, do bảo quản tốt giá xuất kho cao hơn 100đ/kg hằng năm cũng làm lợi cho ngân sách Nhà nước hàng tỷ đồng.

Để phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới vào sản xuất  làm tăng hàm lượng khoa học trong các sản phẩm, hướng tới nền nông nghiệp năng suất - chất lượng - hiệu quả và phát triển bền vững trong những năm qua Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông đứng đầu là Ths. Nguyễn Hồng Phong và các cộng sự đã tập trung nghiên cứu Công trình "Sản xuất phân bón NPK có chứa Silíc dễ tiêu dùng cho cây Lúa tại Thanh Hóa", với mục tiêu nghiên cứu sản xuất phân bón NPKSi, bón cho cây lúa trên đồng ruộng làm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế khi sử dụng sản phẩm Phân bón NPKSi 6-8-4-8 và phân Đạm Silicon của Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông có chứa thành phần silíc dễ tiêu, một nguyên tố dinh dưỡng kỳ diệu được cây trồng hấp thụ nhiều giúp cây trồng tăng khả năng chống đổ, nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.

Để thực hiện công trình đưa silíc dễ tiêu vào sản xuất, Công ty đã  cải tạo, nâng cấp dây truyền sản xuất và đưa sản phẩm ra thử nghiệm tại nhiều vùng đất khác nhau trên địa bàn tỉnh nhằm khẳng định vai trò của yếu tố Silíc đối với cây lúa, Công ty đã tổ chức sản xuất thử nghiệm tại 8 xã gồm: Đông Thanh, huyện Đông Sơn; xã Định Tường, huyện Yên Định; xã Xuân Thành, huyện Thọ Xuân; xã Trường Giang, huyện Nông Cống; xã Hà Long, huyện Hà Trung xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa; xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc; xã Nga Trường, huyện Nga Sơn với diện tích trên 9ha, bình quân bón lót 500kg/ha thử nghiệm. Kết quả trên diện tích 9ha thử nghiệm cho thấy năng suất lúa tăng 8-15% tuỳ từng vùng đất và hạn chế được một số sâu, bệnh hại lúa.

Trong năm vừa qua, Công ty đã sản xuất 200 tấn NPK Si, doanh thu đạt 5.760 triệu đồng, lợi nhuận mang lại cho công ty 360 triệu đồng. Sản lượng Lúa trên diện tích bón phân NPK Si đạt 17.280 tấn giá trị mang lại là 86.400 triệu đồng đây là nguồn thu trực tiếp cho nông dân, nên nông dân rất tin tưởng vào sản phẩm do Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông sản xuất.

Chiến lược phát triển của Công ty CP Công nông nghiệp Tiến Nông  trong những năm tới  tiếp tục phát triển nghiên cứu và bổ sung nguyên tố silíc cho các loại cây trồng khác như Mía, Cà phê, Ngô …. Phục vụ khắp cả nước, với hơn 20 loại sản phẩm phân bón NPK được bổ sung Silíc. Các sản phẩm này đã được Sở Khoa học và Công nghệ công nhận là sản phẩm khoa học.

Với tiềm năng trí tuệ, tinh thần sáng tạo và đặc biệt là nguồn lực khoa học công nghệ  của tỉnh đang được ứng dụng chuyển giao một cách có hiệu quả, nhiều công trình đoạt các giải thưởng KHCN Việt Nam, trong đó không ít đề tài đã phát huy tác dụng lớn vào phát triển sản xuất, kinh doanh ở các ngành, địa phương trong tỉnh.

Tuy nhiên, đánh giá một cách nghiêm túc thì số lượng đề tài, dự án, công trình khoa học kỹ thuật đoạt giải hoặc xếp loại khá, xuất sắc được ứng dụng vào thực tế đời sống còn quá ít. Nhiều công trình sau khi được nhận Bằng chứng nhận đoạt giải thưởng, việc triển khai vào thực tế khó khăn. điều đó làm lãng phí sức lực, trí tuệ và nguồn kinh phí đã đầu tư cho tập thể, cá nhân tham gia nghiên cứu. Bởi vậy, để khơi dậy  phong trào sáng tạo khoa học công nghệ, nhất là việc ứng dụng có hiệu quả các đề tài đoạt các giải thưởng KHCN Việt Nam vào thực tiễn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ. Trong đó điều quan trọng là Nhà nước, UBND tỉnh cần có cơ chế gắn các chương trình khoa học và công nghệ với các chương trình, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, dự án trọng điểm của tỉnh trong từng thời kỳ, giai đoạn phát triển, hỗ trợ các công trình đoạt các giải thưởng KHCN Việt Nam được thực hiện sản xuất thử nghiệm. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng gắn kết chặt chẽ trách nhiệm và quyền lợi của nhà nghiên cứu, nhà sản xuất. Hoàn thiện cơ chế quản lý và phối hợp đồng bộ giữa Sở Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hoá với các ban, ngành trong việc xây dựng kế hoạch, xét duyệt, tuyển chọn chương trình, đề tài, dự án cấp Bộ, cấp tỉnh. Một mặt, cải tiến mạnh mẽ cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng giảm dần các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thông thoáng hơn cho các tổ chức khoa học trong việc quyết định các nội dung và định mức chi, mặt khác cho phép các doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển Khoa học - Công nghệ nhằm đầu tư nhiều hơn cho việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh. Nhà nước cần có chính sách phù hợp trong việc ràng buộc trách nhiệm đổi mới, cải tiến công nghệ gắn với nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; hiệu quả sử dụng tài nguyên đối với các chủ doanh nghiệp; biện pháp nâng cao kinh phí đầu tư cho khoa học - công nghệ từ các nguồn xã hội hóa.

                                                          Lê Xuân Dũng

                                                                     Phó Chánh Văn phòng Liên hiệp hội