Liên kết website

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Thanh Hoá - Địa chỉ: 17 Hạc Thành - Ba đình - Thành phố Thanh Hoá. Số ĐT: (0373) 853.656-  3720.885   Fax: 037.3720885


Vai trò của hoạt động khoa học công nghệ trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Trường đại học Hồng Đức

1. Vai trò của nghiên cứu khoa học (NCKH) trong giáo dục đại học

1.1. Vai trò của NCKH trong trường đại học

Qua thực tế, chúng ta  nhận thức được rằng, NCKH có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Trong công tác đào tạo đại học ở nước ta hiện nay, NCKH được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội. NCKH có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học vì không những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho sự phát triển của nhân loại. Với tầm quan trọng như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành TW khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: "Các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống"

Để khoa học, công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm công tác khoa học, nhất là giảng viên tại các trường đại học phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. QĐ số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (11/4/2012) về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020 chỉ rõ: "Phát triển khoa học công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Khoa học và công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".

Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khẳng định  được vai trò của NCKH, các trường đại học nói chung và đại học Hồng Đức nói riêng luôn hướng tới mục tiêu "Mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu". Bởi vì, nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học và đó là con đường hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực sư phạm của mỗi người làm công tác giảng dạy và giáo dục. Trong những năm vừa qua, ngành giáo dục và nền khoa học công nghệ nước ta đã đạt được thành tích đáng kể là nhờ có những đóng góp không nhỏ từ hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong các trường đại học và cao đẳng nói chung.

1.2. Vài nét về trường Đại học Hồng Đức

Trong các trường đại học trực thuộc địa phương ở Việt Nam, Đại học Hồng Đức là trường được thành lập sớm nhất (ngày 24/9/1997), theo Quyết định số 797/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đó là mô hình trường Đại học công lập cấp tỉnh, trực thuộc ủy ban nhân tỉnh, do tỉnh cung cấp ngân sách; Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ yếu quản lý nhà nước về chuyên môn.

Là một trường đại học địa phương, nên việc đẩy mạnh hoạt động NCKH không chỉ nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển đội ngũ của nhà trường, mà còn nhằm góp phần phát triển các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa. Cũng như các trường đại học địa phương trên cả nước nói chung, đại học Hồng Đức luôn phát huy vai trò để trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ của tỉnh nhà.

Bên cạnh chức năng, nhiệm vụ: đào tạo nhân lực tại chỗ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tạo điều kiện cho con em địa phương, gia đình khó khăn có điều kiện tiếp xúc với giáo dục đại học, trường đại học Hồng Đức luôn cố gắng hoàn thành tốt sứ mệnh được giao. Đó là: đào tạo nguồn nhân lực có đầy đủ yếu tố và phẩm chất của người lao động có trình độ cao về khoa học, công nghệ, quản lý đáp ứng nhu cầu về kinh tế - xã hội của địa phương, vùng miền lân cận, thích nghi được không chỉ với điều kiện lao động trong cả nước mà còn có khả năng thích ứng, hội nhập thành công trong khu vực và trên thế giới. Để hoàn thành tốt sứ mệnh của mình, song song với giảng dạy, đại học Hồng Đức đặc biệt quan tâm đến hoạt động NCKH, bởi lãnh đạo trường sớm xác định được đây là hai yếu tố nòng cốt để đánh giá chất lượng của trường.

2. Nghiên cứu khoa học - Hoạt động cơ bản của Đại học Hồng Đức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

ở bất cứ một trường đại học nào cũng đều có hai nhiệm vụ chính và quan trọng nhất là: đào tạo và NCKH. Đây là hai hoạt động có mối quan hệ hữu cơ, hai nhiệm vụ cơ bản chiến lược của nhà trường, trong đó việc giảng viên, sinh viên trong nhà trường tích cực tham gia các hoạt động NCKH là một trong những biện pháp thiết yếu để hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Chúng ta đều biết rằng, NCKH và giảng dạy có mối quan hệ hữu cơ với nhau, gắn kết chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau. NCKH tạo cơ sở, điều kiện, tiền đề nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy ở trên lớp. Ngược lại, công tác giảng dạy phản ánh kết quả của hoạt động NCKH. Do vậy, có thể khẳng định rằng, cùng với hoạt động giảng dạy, NCKH là thước đo năng lực chuyên môn của giảng viên. Để nâng cao năng lực NCKH của cán bộ giảng viên đồng thời đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực, nhà trường đã chú trọng các vấn đề sau:

2.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên của nhà trường

Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động NCKH trong nhà trường. Vì vậy nhà trường đã xây dựng lộ trình và biện pháp để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ giảng viên đáp ứng yêu cầu giảng dạy và NCKH. Trong các năm qua, số lượng cán bộ giảng viên có trình độ cao của nhà trường không ngừng tăng cao. Nếu như năm đầu mới thành lập (1997), số cán bộ giảng viên có trình độ sau đại học của nhà trường chỉ đạt 24,15% (trong đó chỉ có 6 tiến sĩ) thì đến năm 2013, sau 16 năm phấn đấu, nhà trường đã  đạt được 74,5% cán bộ giảng viên có trình độ sau đại học (trong đó có 70 phó giáo sư và tiến sĩ). Có được kết quả đó là vì nhà trường có chính sách khuyến khích, động viên cán bộ đi học, mặt khác, có ưu đãi đặc biệt để thu hút các nhà khoa học, những người có chuyên môn nghiệp vụ cao về trường công tác nhằm nâng cao năng lực NCKH trong nhà trường.

2.2. Có chính sách kêu gọi, khuyến khích giảng viên nghiên cứu, thực hiện đề tài NCKH, đặc biệt chú trọng đề tài có tính ứng dụng cao

NCKH có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với giảng viên: giúp giảng viên có điều kiện đào sâu hơn, nắm bắt chặt chẽ hơn kiến thức chuyên môn mà mình đang trực tiếp giảng dạy, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng của mình. Người giảng viên tham gia NCKH một mặt vừa củng cố lại kiến thức chuyên môn của mình, mặt khác vừa có điều kiện mở rộng, hiểu biết nhiều hơn những kiến thức từ các chuyên ngành khác; quá trình thực hiện các hoạt động NCKH là cơ hội tốt để giảng viên có môi trường, cơ hội bồi dưỡng năng lực NCKH; thông qua việc NCKH, sẽ tăng thêm sự hiểu biết về ngành nghề, góp phần hình thành và bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp cho giảng viên, đồng thời NCKH tạo điều kiện cho giảng viên tìm ra phương pháp giảng dạy có hiệu quả nhất. Chính vì những lý do đó nhà trường đã có nhiều chính sách, ưu đãi đối với hoạt động NCKH của cán bộ giảng viên và các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ có nhiều chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng.  Trong 15 năm xây dựng trường đại học Hồng Đức, cán bộ, giảng viên nhà trường đã chủ trì 574 đề tài (dự án) khoa học các cấp, trong đó 5 đề tài cấp Nhà nước, 35 đề tài cấp Bộ, 48 đề tài cấp Tỉnh và 486 đề tài cấp cơ sở. Đặc biệt, trong hai năm thực hiện kết luận của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh (2011-2012), hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học Hồng Đức đã đạt được kết quả đáng tự hào: Toàn trường thực hiện 115 đề tài, dự án khoa học công nghệ, trong đó có 1 đề tài độc lập cấp Nhà nước, 2 đề tài khoa học thuộc "Quỹ phát triển KH&CN Quốc gia"; 11 đề tài cấp bộ, 11 đề tài dự án cấp tỉnh; 90 đề tài cấp cơ sở. Đáng chú ý là trường  có nhiều đề tài, dự án các cấp được triển khai, nhiều ứng dụng được đưa vào thực nghiệm và đạt kết quả cao. Đặc biệt, có những kết quả nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống được công nhận cấp quốc gia như giống lúa HD9 (Hồng Đức 9), được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận và cho phép sản xuất thử. ...

2.3. Tổ chức dưới nhiều hình thức để sinh viên có cơ hội tham gia NCKH

NCKH của sinh viên là một nội dung quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của nhà trường, thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng "Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội" góp phần nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện. Để đẩy mạnh hoạt động NCKH của sinh viên, hàng năm nhà trường đều tổ chức các hội nghị NCKH của sinh viên như: NCKH sinh viên và phong trào tuổi trẻ sáng tạo, cuộc thi ý tưởng sáng tạo… được coi là ngày hội về hoạt động NCKH của sinh viên. Trong những năm qua, sinh viên toàn trường đã thực hiện hàng nghìn đề tài khoa học các cấp và có đề tài đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia: 1 giải Nhì, 5 giải Ba, 18 giải Khuyến khích trong cuộc thi "Tài năng khoa học trẻ" do Bộ GD-ĐT tổ chức; 4 giải thưởng Sáng tạo KH&CN Việt Nam - Vifotec.

Ngoài ra, nhà trường còn mở cuộc hội thảo trao đổi về phương pháp, kinh nghiệm học tập, nghiên cứu đề tài, viết chuyên đề, tiểu luận, luận văn tốt nghiệp ở bậc đại học; nghiên cứu trao đổi nội dung các môn học cơ bản….nhằm giúp sinh viên nắm chắc kiến thức và phương pháp NCKH.

NCKH trong sinh viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo, khả năng nghiên cứu khoa học độc lập, hình thành năng lực tự học cho sinh viên;

3. Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động NCKH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

NCKH và nâng cao chất lượng đào tạo có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Vì vậy muốn có nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội cần có giải pháp thúc đẩy hoạt động NCKH:

- Lãnh đạo Trường Đại học Hồng Đức đang từng bước quan tâm đến hoạt động NCKH của giảng viên, coi đây là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo của trường.

- Tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho hoạt động nghiên cứu. Giải pháp này cần thực hiện đồng bộ ở các cấp, không chỉ thực hiện ở cấp trường, cấp tỉnh  mà cần tăng thêm ngân sách hàng năm của Nhà nước, tích cực huy động các nguồn lực xã hội cho hoạt động nghiên cứu khoa học; tăng kinh phí cho các đề tài nghiên cứu và đầu tư thêm cho các phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu. Việc tăng kinh phí cần có sự lựa chọn và xét duyệt khách quan để các đề tài thực sự cần thiết và chắc chắn mang lại hiệu quả.

- Có chính sách thu hút, đãi ngộ, trọng dụng cán bộ nghiên cứu khoa học có trình độ cao, đặc biệt là cán bộ trẻ trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; có cơ chế giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho cán bộ giảng viên, đặc biệt là cán bộ trẻ; thành lập các nhóm nghiên cứu của sinh viên, học viên giỏi trong nhà trường.

- Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, cá nhân trong nước với các đối tác nước ngoài; thu hút đầu tư nước ngoài thông qua các dự án nghiên cứu tại Việt Nam; Tạo điều kiện cho giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học có nhiều cơ hội tiếp xúc, tham gia những hoạt động nghiên cứu, Hội thảo ở các địa phương trong nước và các nước có nền khoa học, giáo dục phát triển; tham khảo một số mô hình trường đại học địa phương của một số nước trên thế giới; dành một khoản ngân sách riêng cho những giảng viên có kết quả nghiên cứu được công nhận rộng rãi ở trong nước và quốc tế.

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ giảng viên, sinh viên, học viên trong nhà trường và của xã hội về vai trò là động lực then chốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của công tác nghiên cứu khoa học, tạo không khí thi đua lao động sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; nâng cao tinh thần của tổ chức, cá nhân hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

4. Kết luận

Có thể nói, hoạt động nghiên cứu khoa học gắn liền với hiệu quả của giáo dục và đào tạo, đây là điều kiện hình thành cơ chế chính sách quản lý thích hợp đối với trường đại học địa phương, tạo tiền đề để nhà trường phát huy hơn nữa tính sáng tạo trong việc tham gia một cách tích cực vào việc gắn kết chương trình giảng dạy với nghiên cứu khoa học, nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương có kiến thức vững vàng, phát huy năng lực ngay sau khi về công tác ở cơ sở và thích ứng với môi trường mới của nền kinh tế tri thức.

                                                      PGS. TS Lê Hữu Cần

                                                              Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức